LỜI GIỚI THIỆU
Thiếu tướng Phan Văn Xoàn
Nguyên (Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ - Bộ Công an).
Trong cả cuộc đời làm công an của mình, đối với ông Phan Văn Xoàn, gần mười năm làm cận vệ bảo vệ trực tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh là quãng đời đáng ghi nhớ nhất mà ông không bao giờ quên. Theo ông đây là quãng đời vinh dự đầy tự hào của một người lính khi được gần gũi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, và ông được Bác Hồ, như một nhà hiền triết, đã có những lời dạy bảo ân cần từ lời nói đến hành động cho ông và cho tất cả những đồng chí cảnh vệ khác.
Sau khi Bác Hồ qua đời, với ý thức gìn giữ những hình ảnh của vị lãnh tụ kính yêu, ông Phan Văn Xoàn cùng với sự giúp việc của đồng chí Cao Bá Sánh - cán bộ Phòng Tổng hợp Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tiến hành thu thập tài liệu, ghi lại những hình ảnh, ký ức về Bác Hồ của một số đồng chí cán bộ từng có thời gian làm cận vệ bên Người từ trong chiến khu Việt Bắc cho đến ngày hòa bình về Hà Nội sau năm 1954. Mỗi câu chuyện kể là một hồi ức đầy cảm động tôn lên hình ảnh cao đẹp về vị lãnh tụ kính yêu - Chủ tịch Hồ Chí Minh . Người như không đi đâu xa mà vẫn gần gũi hiện hữu đâu đây trong mỗi trái tim chúng ta khi đọc tác phẩm này.
Năm nay 87 tuổi đời, trí tuệ vẫn còn cực kỳ minh mẫn, thiếu tướng Phan Văn Xoàn vẫn giữ trong tâm trí những ký ức, hình ảnh tuyệt vời về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà như ông khẳng định sẽ không bao giờ quên.
Nhân kỷ niệm 121 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890 - 19.5.2011) và 100 năm ngày Bác ra đi trên đường cứu nước (5.6.1911 - 5.6.2011), Nhà xuất bản Công an Nhân dân xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
Nxb. Công an nhân dân
LỜI NÓI ĐẦU
Nxb. Công an nhân dân
NHỮNG THÁNG NGÀY BÊN BÁC
NHỮNG NGÀY GẶP BÁC
BÁC VỀ PÁC PÓ
Nxb. Công an nhân dân
ĐƯỢC ĐẾN VỚI BÁC
KỶ NIỆM SÂU SẮC TRONG NHỮNG NGÀY BẢO VỆ BÁC Đồng chí Hoàng Hữu Kháng
Nguyên Cục trưởng Cục Cảnh vệ - Bộ Công an
Tôi được vinh dự bảo vệ Bác từ những ngày đầu cách mạng tháng 8.1945 cho đến ngày Bác đi xa. Năm tháng trôi qua nhưng kỷ niệm về những ngày được sống bên Bác, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, còn in đậm mãi trong tâm trí tôi.
BÀI HỌC ĐẦU TIÊN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH VỚI KẺ THÙ
Khoảng cuối tháng 5.1945, Bác rời nhà ông Tiên Sự xuống ở lán Nà Lừa. Trong căn lán đơn sơ nhỏ bé này, Bác đã cùng Trung ương họp bàn những vấn đề quan trọng quyết định vận mệnh của nước nhà. Chúng tôi cũng được xuống gần để phục vụ Bác. Lúc đó tôi được giao nhiệm vụ quản lý, chuyên lo việc ăn uống của Bác và các đồng chí Trung ương về họp.
Một hôm tôi thấy anh Lợi và anh Đài Toàn dẫn về hai tên lính Tưởng. Thật ra trong nhận thức của chúng tôi lúc ấy chẳng ai ưa gì nhũng tên lính phương Bắc mà ông cha chúng đã từng ngạo mạn đem quân xâm lược nước ta. Vì thế thái độ của tôi đối với hai tên lính Tưởng vẫn còn nghi hoặc và con mắt nhìn quả là thiếu thiện cảm. Được tin họ đến. Bác cho gọi chúng tôi đến dặn:
- Các chú hãy bố trí nơi ăn nghỉ cho họ chu đáo.
Mặc dù băn khoăn, nhưng Bác đã bảo, chúng tôi phải chuẩn bị ngay. Trong lúc Bác và chúng tôi còn phải ở căn lán bằng tranh tre dựng tạm, chúng tôi đã dành cho họ một căn lán mới sạch sẽ và quang đãng. Sau chúng tôi được biết họ là điệp báo viên đến trước để liên lạc với quân đồng minh chuẩn bị vào giải giáp quân Nhật.
Sau khi giành chính quyền, bọn Tưởng đại diện quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật. Chúng vào nước ta ngày càng thể hiện là một đội quân ô hợp, chúng giở đủ trò quấy nhiễu và hạch sách ta đủ điều. Nhìn cách chúng ức hiếp nhân dân và khiêu khích ngay cả anh em trong đơn vị vũ trang bảo vệ Bắc Bộ phủ là nơi Bác làm việc, chúng tôi rất bất bình nên thường nói với nhau phải tiêu diệt hết bọn giặc Tưởng cho hả giận. Biết chuyện này, Bác hỏi chúng tôi:
- Các chú thấy ruồi nhặng có đáng ghét không?
Anh em cùng trả lời:
- Thưa Bác, có ạ!
Bác nhìn chúng tôi như thấu hiểu rồi nói giọng ôn tồn:
- Chúng ta mới giành độc lập ví như được chiếc bình quý mà bọn chúng như ruồi nhặng đang làm bẩn bình. Nếu không đuổi khéo, lỡ tay ta tự đập vỡ bình. Cho nên các chú phải bình tĩnh, khéo léo.
Chúng tôi hiểu ý nghĩa lời khuyên của Bác, từ đó không còn băn khoăn khi gặp phải sự khiêu khích của địch.
Trong những ngày đầu chính phủ mới thành lập Bác rất bận, hàng ngày Người phải tiếp nhiều khách, khách là người đại diện cho các tổ chức hoặc cá nhân đến gặp Bác với những mục đích khác nhau. Tuy bận rộn Bác vẫn dành thời gian tiếp đón. Nếu là nhân dân, cán bộ hay nhân sĩ trí thức thì Bác chăm chú lắng nghe ý kiến và giải thích cặn kẽ, còn đối với bọn Pháp, Mỹ, Tưởng v.v... Bác vẫn cho gặp nhưng Bác dặn chúng tôi:
- Khi họ vào gặp Bác một lát thì các chú đưa chiếc "các" của khách mời đến báo cho Bác biết.
Các là do Bác bảo chúng tôi làm. Chính việc làm đó để dành được nhiều thời gian vàng ngọc cho Bác giải quyết công tác cách mạng và khiến những kẻ đến gặp Bác với ý đồ riêng không thể ngồi ỳ và không có cớ gây khó dễ cho ta.
Đầu năm 1947, giặc Pháp gây hấn, chiến sự đã lan ra vùng Hà Đông, Sơn Tây. Các cơ quan Trung ương lại chuyển vào vùng Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tuy đời sống khó khăn gian khổ, nhưng Bác vẫn làm việc say sưa. Mỗi lần thay đổi chỗ ở, sau khi sắp xếp công việc xong, Bác đưa chúng tôi vào chương trình học tập văn hóa, chính trị, nhiều lần Bác trực tiếp phổ biến cho chúng tôi hiểu biết tình hình thời sự.
Một hôm, chúng tôi đang trao đổi với nhau về chủ trương trường kỳ kháng chiến của Đảng, đúng lúc đó Bác đi tới. Người hỏi chúng tôi đã thông suốt chủ trương của Đảng chưa? Ai chưa rõ thì cứ hỏi. Một đồng chí trong chúng tôi mạnh dạn:
- Thưa Bác, sức ta yếu mà đánh trường kỳ chắc sẽ hại người hại của lắm. Chúng cháu nghĩ mãi mà chưa hiểu tại sao.
Bác nhìn chúng tôi rất cảm thông, giọng Bác ấm áp:
- Ta như thanh niên mà giặc như lão già quỷ quyệt ta cậy sức trẻ đánh bừa sẽ không thắng giặc, vì vậy ta vừa dành vừa nuôi cho sức mình lớn lên khi giặc yếu ta mới lựa thế quật nó ngã.
Chừng như thấy chúng tôi đã hiểu, Bác kết luận:
- Như vậy trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.
Sau đó Bác bảo chúng tôi:
- Các chú tên gọi khác nhau, dễ lộ bí mật, nên để thể hiện quyết tâm kháng chiến của ta, từ nay Bác đặt cho các chú tên mới theo câu Bác vừa nói. Các chú có đồng ý không?
- Đồng ý! - Chúng tôi phấn khởi đồng thanh trả lời.
Chúng tôi có 8 anh em làm công tác bảo vệ, phục vụ Bác. Người đặt tên cho chúng tôi lần lượt: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi. Chúng tôi vinh dự mang tên mới Bác đặt cho từ ấy.
Quá trình công tác chúng tôi được Đảng giáo dục nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp cách mạng, nhưng bài học đầu tiên Bác dạy đã để lại trong chúng tôi ấn tượng sâu sắc
NHÀ Ở CỦA BÁC
Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, chúng tôi theo Bác lên chiến khu Việt Bắc, đến nơi, Bác bảo chúng tôi:
- Bác cháu mình không thể ở nhà dân lâu được vì còn giữ bí mật, vậy Bác cháu ta làm một cái nhà để ở, và chỉ cần làm nhà nhỏ, đơn sơ thôi.
Nghe Bác nói xong, tôi thưa:
- Thưa Bác để chúng cháu tìm thợ về làm ạ.
Bác xua tay:
- Không cần mượn thợ, ta có cần làm to tát và đẹp đẽ gì đâu mà mượn thợ cho tốn kém lại lộ bí mật.
Trong thời gian chờ đợi làm nhà, chúng tôi mượn cái lán dùng để chứa thóc của gia đình chị Thu Thanh ở Châu Tư do cho Bác ở.
Hai tuần sau, chúng tôi đã hoàn thành một căn lán nhỏ, dụng cụ không có, chúng tôi làm hoàn toàn bằng dao.
Ở được một thời gian. Bác bảo tôi:
- Địa điểm làm nhà chưa được tốt, nhà chưa được kín, nhất là nhà còn to quá. Lần sau các chú đi trên địa điểm phái chú ý làm sao cho hợp với thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
Thiên thời nghĩa là nơi ở có không khí trong lành, thoáng đãng. Địa lợi tức là nơi nào mà ta tiến thoái thuận tiện, nơi nào có thể làm được sân chơi, cạnh đồi núi để làm hầm tránh máy bay rớt. Nhân hòa có nghĩa là dân ở đó phải tốt, giúp đỡ cán bộ tận tình, giữ được bí mật.
Ngừng một lát, Bác dặn:
- Còn nhà phải làm thoáng và kín, nghĩa là vào đến nhà phải sáng sủa mát mẻ. Kín tức là máy bay địch không phát hiện được, người ở ngoài không nhìn thấy và cần phải làm cách xa khu vực Trung ương mười cây số.
Chúng tôi báo với Bác đã nhắm một nơi khác đẹp nhưng chỉ cách khu vực Trung ương khoảng 4-5 cây số.
- Được, cách năm cây số cũng được, nhưng khi nào các chú tìm được địa điểm phải để Bác kiểm tra rồi hãy làm.
Sau khi tìm được một nơi rất vừa ý, chúng tôi xin ý kiến Bác và dựng nhà. Nhưng Bác không hài lòng vì nhà dựng còn hơi rộng.
Bác dặn:
- Các chú chỉ cần làm nhà nhỏ bằng cái giường thôi, lần sau các chú phải đo đất để Bác kiểm tra rồi mới được làm. Và khi làm nhà nên tìm một gốc cây to làm cột, dựng nhà bán mái che cho tiện, vừa tiết kiệm được công sức lại vừa che kín nhà.
Chúng tôi tìm cây to đục làm cột và dựng nhà bán mái che cho Bác.
Làm nhà ở gốc cây to đúng là tiết kiệm được nguyên vật liệu và công sức, lại kín đáo, nhưng cứ mỗi trận mưa là nước trên cây rơi xuống tầm tã. Những đêm mưa Bác phải thức suốt đêm.
Thương Bác quá, chúng tôi đề nghị Bác làm nhà tách khỏi cây. Bác không đồng ý, Bác nói:
- Bác chịu rét một mình còn hơn để các chú vất vả.
Tôi tìm mãi lý do để đề nghị Bác chuyển nhà nhưng không được. Mãi về sau tôi mừng quá vì đã tìm được một lý do là: làm nhà dưới gốc cây to, mỗi lần có gió mạnh chẳng may cây đổ có thể chết người. Tôi đi thu thập trong dân gian những mâu chuyện cây đổ chết người để về thưa với Bác, nhưng cũng không có hiệu quả.
Bỗng một hôm có một cơn gió lốc rất to, gió làm rung chuyển cả cây mà chúng tôi làm cột nhà, cành cây gãy răng rắc rơi xuống xung quanh nhà. Tôi lao vào trong gió bão đưa Bác ra khỏi nơi nguy hiểm.
Sau lần ấy Bác mới chịu để chúng tôi làm nhà tránh riêng khói gốc cây.
Nhiều lần nhìn căn nhà quá đơn sơ, không được đẹp lắm vì chúng tôi đã không biết làm, lại không có dụng cụ, chúng tôi đề nghị Bác để nhờ dân làm lại cho dẹp. Bác nói:
- Ở thế nào xong thì thôi, các chú hay vẽ chuyện làm ảnh hưởng đến nhân dân.
Chúng tôi suy nghĩ mãi mới tìm được một cách khắc phục, lần sau khi tuyển những người bảo vệ và phục vụ Bác, chúng tôi chọn những người biết làm thợ mộc. Vì thế những căn nhà làm lần sau tuy nhỏ nhưng đẹp đẽ hơn. Nhờ có hiên che, đỡ trống, đỡ nắng mưa, chứ trước đây nhà chỉ vỏn vẹn một gian hẹp. Tất cả các căn nhà mà chúng tôi làm cho Bác toàn là nhà sàn. Trong nhà không có giường. Bác trải một chiếc chiếu xung quanh chẳng có trang trí gì ngoài mấy ống nứa Bác để bút và chiếc đèn dầu hỏa.
Khi làm việc Bác thường ngồi trên sàn. Cạnh Bác là chiếc máy chữ nhỏ.
Hòa bình lập lại, Bác về Hà Nội, mặc dù được Trung ương chọn cho Bác nơi ở và làm việc nhưng Bác không ở nhà rộng, Bác chọn căn nhà hai gian, mái bằng để ở.
Mấy năm sau vì thấy Bác thích ở nhà sàn cho thoáng chúng tôi làm cho Bác một nhà sàn nhỏ có hai phòng.
Bác ở một phòng và làm việc một phòng. Phòng làm việc rộng không quá 10m2. Trong phòng có một bàn một ghế, một chiếc đèn để bàn. Có bàn ghế nhưng Bác không ngồi ở bàn làm việc bao giờ, Bác ngồi ngay trên sàn làm việc Trong phòng ở có một chiếc giường nhỏ, một chiếc đèn bàn và một chiếc máy thu thanh nhỏ. Bác không trang trí tranh ảnh và cũng không dùng tủ, quần áo của Bác chỉ có hai bộ ka-ki, hai bộ bà ba nâu, một bộ đồ đen để đi nước ngoài về mùa đông. Nhưng Bác chẳng mấy khi mặc. Những thứ đồ đó đồng chí phục vụ giữ.
Khi Bác yếu, Bộ Chính trị quyết định làm thêm cho Bác một căn nhà nhỏ nữa để Bác khỏi phải lên xuống nhà sàn vất vả. Bác nhất định không đến ở nhà mới. Bác thường nói với các đồng chí Bộ Chính trị:
- Các chú làm nhà, các chú đến mà ở. Bác chẳng ở đâu. Bác ở ngôi nhà cũ là đủ rộng rãi và thuận tiện lắm lỗi.
Trước lúc Bác mất khoảng một tháng, không lên xuống được nhà sàn nữa, Bác mới chịu đến ở ngôi nhà mới bên nhà sàn.
Chúng tôi rất cảm động mỗi khi nhìn căn nhà nhỏ đơn sơ của Bác. Trong dịp sang thăm Việt Nam, Phó Tổng thống Ấn Độ đã đến thăm ngôi nhà ở của Bác và sửng sốt, cảm động nói:
- Thật tôi không thể tưởng tượng nổi một vị lãnh tụ tối cao của một dân tộc lại ở căn nhà nhỏ bé bình dị đến thế.
NHỮNG BỮA ĂN GIẢN DỊ CỦA BÁC
Nhiều người nghĩ rằng vị lãnh tụ tối cao lại tuổi già sức yếu như Bác chắc phải ăn uống rất đặc biệt để bảo vệ sức khỏe. Ý nghĩ đó kể ra không có gì sai vì chăm lo đến bữa ăn của Bác sao cho tốt để bảo vệ sức khỏe cho Người là rất quan trọng. Nhưng thực ra, những bữa ăn hàng ngày của Người lại rất giản đơn thanh đạm.
Năm 1945 khi ở Bắc Bộ phủ, Bác cũng ngồi ăn chung với các đồng chí Trung ương và các đồng chí bảo vệ, phục vụ.
Sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, một số tên Quốc dân Đảng có chân trong chính phủ cũng đến đây ăn cơm. Thấy tình hình phức tạp, sợ chúng có âm mưu đen tối. Trung ương đề nghị Bác về ăn cơm ở nhà riêng.
Anh Cả (tức đồng chí Nguyễn Lương Bằng) và anh Thọ chọn một người nấu bếp giỏi đến nấu ăn cho Bác. Người này trước kia đã từng nấu ăn cho Pháp và đã từng ở tù với các anh.
Được về nấu ăn cho Bác, người đó rất sung sướng, đem hết tài năng ra để chuẩn bị các bữa ăn thịnh soạn theo kiểu Âu - Á. Trước những món ăn tốn kém như vậy, Bác tỏ ra không bằng lòng, nên sau đó nhân ngày toàn quân kháng chiến, Trung ương chuẩn bị lên chiến khu, Bác cho gọi người nấu bếp lên nói:
- Bây giờ toàn quốc kháng chiến. Bác lên chiến khu, ở đó không có điều kiện nấu nướng như trước nữa, vậy chú vui lòng đi nhận việc khác.
Mãi sau này, Bác mới nói:
- Chú ấy quen nấu bếp cho Tây rồi, nấu gì cũng làm to, tốn kém, nhiều tiền của quá, chẳng tiết tiệm gì cả.
Bác quyết định giao việc nấu nướng cho chúng tôi.
Chúng tôi nấu ăn rất vụng, thỉnh thoáng có con gà, con cá, tí thịt thì chỉ biết luộc, kho và rán là hết mức. Tuy thế mà Bác vẫn khen:
- Các chú nấu khéo đấy, ăn ngon lắm.
Bữa ăn nào có thịt gà, Bác không ăn một mình bao giờ. Bác dặn chúng tôi đếm xem có bao nhiêu người ăn, chặt đúng bằng ấy miếng và Bác chia đều cho mọi người. Có hôm cả 15 người chúng tôi có mặt ở nhà, Bác cũng bảo phải chặt đúng 15 miếng chia đều. Thấy làm như thế ảnh hưởng đến sức khỏe của Bác chúng tôi tìm đủ mọi cách để Bác ăn nhiều hơn, nhưng Bác không đồng ý và còn phê bình chúng tôi không nghe ý kiến của Bác. Bác không những đồng cam cộng khổ với anh em mà còn ăn uống hết sức tiết kiệm. Có lần chúng tôi dành cho Bác một hộp sữa để Bác ăn sáng. Bác ăn đúng một tuần, mỗi sáng Bác tự pha sữa lấy, và pha rất loãng, không để cho ai pha bao giờ, vì Bác sợ pha quá tay sẽ nhanh hết, không dùng được lâu. Một món ăn đặc biệt và thường xuyên là món "muối Việt Minh" đó là món ăn Bác bảo chúng tôi làm. Cứ 1kg thịt, 1kg muối và khá nhiều ớt trộn lẫn với nhau rang thật khô bỏ vào lọ ăn dần. Mỗi bữa mỗi người chỉ cần độ một đầu ngón tay là ăn đủ. Bác và chúng tôi ăn món đó độ khoảng một năm. Bác thích nhất là món cà muối và dưa muối. Ngày ở chiến khu cũng như khi về Hà Nội, trong nhà Bác bao giờ cũng có vại cà và liễn dưa muối nhỏ.
Trong kháng chiến. mỗi bữa ăn của Bác chỉ cần vài con cá, vài quả cà hoặc ít dưa và bát canh nhỏ, những thứ này chúng tôi tăng gia, tự túc được cả. Rau thì trồng quanh năm, cá thì câu ở suối chỉ có mất tiền đong gạo. Vì vậy suốt chín năm kháng chiến, anh Cả đưa cho chúng tôi 20 vạn đồng (tiền tài chánh cũ) để nấu ăn cho Bác, chúng tôi chỉ tiêu hết 10 vạn đồng, còn trả lại cho anh Cả 10 vạn đồng. Nấu ăn cho Bác chỉ được nấu vừa đủ, không được nấu thừa. Cứ mỗi lần ăn cơm, còn thừa món gì là Bác bắt chúng tôi phái ăn cho bằng hết. Nhiều lần vì nấu thừa, tôi phải ăn đến tức bụng, ăn xong chỉ biết ngồi mà thở.
Bác thường nói:
- Các chú cố gắng ăn nhiều cho khỏe, lấy sức đánh giặc lâu dài, để thừa nó phí.
Sau bữa ăn Bác thường tự tay thu dọn bát đĩa gọn ghẽ rồi mới để chúng tôi bưng đi rửa.
Tôi còn nhớ có lần Bác hỏi tôi:
- Bác thấy nhân dân ở đây người ta làm mứt dứa ngon lắm. Chú thử làm một ít. Bác cháu ta cùng ăn xem sao.
Tôi không biết làm mứt dứa thế nào đành thưa:
- Thưa Bác! Cháu không biết làm mứt dứa thế nào cả.
Bác Hồ Bác chỉ dẫn:
- Bác thấy họ cho dứa vào thắng với đường.
Vì không biết cách làm, chính ra phải bổ dứa phơi khô rồi mới thắng với đường, chúng tôi cứ bổ ra rồi nấu với đường, nấu xong lỏng bỏng như canh, khi ăn Bác vừa cười vừa nói:
- Đây gọi là "mứt dứa ông Kháng".
Một lần khác Bác lại bảo chúng tôi:
- Người ta làm nộm cà ngon lắm, các chú làm mà ăn.
Chúng tôi cắt cà nhỏ, bóp với muối, chẳng có rau thơm gì cả, nước thì cho khá nhiều, mặn chát, khi ăn Bác nói vui:
- Đây là cà muối chứ không phải nộm các chú nhỉ.
Thấy cứ kéo dài tình trạng nấu ăn theo kiểu "nghiệp dư" như chúng tôi thì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của Bác, chúng tôi cử ra một đồng chí chuyên nấu ăn cho Bác. Đồng chí này lúc thì đến chị Trần Duy Hưng, lúc thì đến chị Hai Sóc học cách nấu nướng.
Từ đó món ăn của Bác có ngon lành hơn, nhưng vẫn đơn giản như trước.
Mỗi lần đi đâu xa, Bác thường bảo gói cho Bác nắm cơm, một khúc cá kho, mấy quả ớt. Đến địa điểm, Bác cháu giở nắm cơm ra cùng ăn. Bác không để cơ quan hoặc nhân dân đón tiếp linh đình. Bác dặn:
- Bất cứ đi đâu cũng không được làm phiền nhân dân, tiếp đón linh đình vừa mất thời giờ vừa tốn kém tiền bạc của nhân dân.
Cứ nhìn những bữa ăn đạm bạc, đậm đà, hương vị dân tộc của Bác, chúng tôi lại xúc động và càng thấm thía lời Bác dạy về đạo đức cách mạng và tác phong sinh hoạt của người chiến số cách mạng.
BÁC DẠY CÁCH GIỮ BÍ MẬT
Những năm được sống bên Bác, chúng tôi luôn thấy Người rất quan tâm đến việc giữ bí mật. Trong kháng chiến chống Pháp, kẻ địch luôn tìm mọi cách phá hoại căn cứ địa cách mạng, đánh vào cơ quan đầu não của ta. Việc đảm bảo an toàn cho Bác một phần nhờ giữ bí mật tốt. Bác đã dạy chúng tôi nhiều bài học và cách giữ gìn bí mật.
Năm 1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, tình hình chính trị phức tạp, Trung ương đề nghị Bác chuyển về ở nhà số 8 Thủy Tạ. Bọn phản động thường xuyên theo dõi hoạt động của Bác. Mỗi lần Bác ra khỏi nhà, chúng tôi để ý thấy có bọn địch bám theo. Thấy vậy Bác bảo chúng tôi:
- Các chú hãy đổi xe khác cho Bác.
Có hôm thấy bọn chúng bám riết, Bác chỉ chúng tôi đi vòng vào mấy phố, khi cắt được cái đuôi Bác mới cho đi đến nơi làm việc. Cũng dịp này Bác luôn thay đổi chỗ ở. Có lúc Bác nghỉ ở một nhà cơ sở trên Bộ, có khi xuống phố Lò Đúc. Thấy chúng vẫn đánh hơi, Bác bảo ra nghỉ ở ngoại thành.
Cuối năm 1946, giặc Pháp phản bội, đánh chiếm Hà Nội. Để đảm bảo an toàn, Trung ương chuyển nơi ở của Bác về làng Vạn Phúc (Hà Đông). Sau đó ít ngày, Bác qua Cần Kiệm, Viên Nội rồi vượt bến Trung Hà, sang Thái Nguyên trở lại chiến khu Việt Bắc, Bác dặn chúng tôi:
- Các chú hãy vào rừng làm lán, nên ở xa đường lớn, tìm nơi có ít người lui tới.
Dạo ấy chúng tôi luôn thay đổi chỗ ở. Bác chỉ cho ở mỗi nơi độ vài ba tháng lại phải chuyển đi nơi khác để đảm báo bí mật. Nếu ở vùng nào có người đào ngũ theo giặc thì Bác yêu cầu phải chuyển chỗ ở ngay, không được ngại khổ, không tiếc nhà cửa, vườn tược.
Tài liệu dùng xong, Bác cho giữ lại cơ quan. Những tài liệu cần thiết, Bác tự đem theo bên mình, giấy tờ cần hủy Bác cũng tự đốt lấy. Tôi và anh Kỳ cũng không được Bác giao cho việc này.
Tôi còn nhớ một lần trước lúc chuyển sang chỗ ở mới, Bác cho gọi anh Kỳ, anh Định và tôi giao cho đào hầm bí mật. Bác dặn chúng tôi lấy đất đổ ở những nơi khác sao cho chỗ đào hầm không để dấu vết gì lạ. Ba chiếc hòm gỗ được giấu trong chiếc hầm bí mật, sau đó anh Trường được Bác phân công ở lại trông lán. Tài sán chỉ vỏn vẹn ba cái xe đạp cũ. Ba năm sau chúng tôi trở lại thấy căn nhà vẫn gọn gàng sạch sẽ. Những chiếc hòm gỗ được đào lên còn nguyên vẹn. Đến lúc đó anh Trường mới vỡ lẽ rằng anh đã được ở lại làm một việc rất quan trọng trông coi phần lớn tài sản quý giá của nhân dân quyên góp trong "tuần lễ vàng" ủng hộ kháng chiến.
Mỗi lần đi thăm hỏi đồng bào trong các làng bản, Bác thường dặn thúng tôi phải chuẩn bi sẵn những câu trả lời với danh nghĩa cán bộ tỉnh, huyện cho phù hợp. Tôi được ở gần Bác nên nhiều người biết mặt, có những nơi cần phải đảm bảo bí mật, Bác bảo tôi nên ít xuất hiện, vì nếu thấy tôi người ta sẽ biết Bác đang ở đó.
Hàng ngày thường có cán bộ đến làm việc với Bác. Bác đề ra nguyên tắc cho chúng tôi là:
- Ai muốn đến gặp Bác thì các chú phải báo cho Bác biết trước, Bác đồng ý cho vào thì mới được vào.
Bài học ở chùa Thầy năm xưa tôi còn nhớ mãi. Dạo ấy Bác đang nghỉ tạm ở chùa Thầy, một hôm đồng chí phục vụ nấu ăn cho Bác gặp người quen cũ. Đồng chí này biết Bác từ hồi Người hoạt động ở Thái Lan, được Bác đưa về nước, vốn biết thuốc nam nên đã có lần chữa bệnh cho Bác. Tôi đưa đồng chí đó lên chào Bác. Bác vẫn tiếp niềm nở nhưng khi đồng chí đó đi rồi, Bác gọi tôi phê bình:
- Chú vô kỷ luật, chú ấy đã nhận công tác khác rồi, ai cho phép chú đưa chú ấy đến đây gặp Bác?
Tôi chỉ biết đứng im để nhận lỗi và nhận một bài học nhớ đời về nguyên tắc giữ bí mật.
Bác thường kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện khi Người còn hoạt động ở nước ngoài. Nhiều lần bị địch bao vây, theo dõi nhưng nhờ bí mật và bất ngờ nên Bác đã thoát khỏi nanh vuốt của địch. Một lần Bác dự phiên họp Hội đồng Chính phủ, xong vào khoảng 12 giờ đêm. Bỗng có hai đồng chí đi ngựa đến đem theo thư của anh Văn báo cáo với Bác ngày mai địch sẽ nhảy dù xuống chiếm khu vực này. Bác viết thư trả lời anh Văn và dặn dò đồng chí cán bộ quân đội xong. Người dùng điện thoại trao đổi với các cơ quan trong khu vực rồi Người báo chúng tôi chuẩn bị di chuyển. Bác nói:
- Chú Kỳ về cơ quan báo cho anh em di chuyển, còn chú Kháng ở lại đi với Bác.
Bác rất bình tĩnh, ở gần Bác tôi được biết nhiều lần giải quyết những việc khó khăn, hệ trọng, thái độ của Bác rất bình thản. Bác bảo tôi lấy la bàn xác định phương hướng rồi quyết định đi tắt đường rừng ngay trong đêm. Đến khoảng gần sáng hai Bác cháu qua một cánh đồng, thấy có một túp lều của dân dùng để coi lúa còn bỏ trống. Bác bảo nghỉ một chút cho đỡ mệt rồi đi tiếp. Tôi định thức canh gác để Bác ngủ một lúc cho lại sức nhưng Bác đã nói ngay:
- Chú đi ngủ trước, để Bác canh cho, đến năm giờ dậy gác thay cho Bác ngủ.
Tôi băn khoăn muốn để Bác ngủ nhưng Người giục, tôi đành vâng lời. Mệt quá, vừa đặt lưng tôi đã ngủ tiếp, khi Bác gọi dậy đã quá 6 giờ. Tôi ngồi canh cửa cho Bác ngủ, tôi định để Bác ngủ lâu hơn, nhưng Bác chỉ chợp mắt, 6 giờ Người đã anh dậy và giục tôi lên đường trước khi trời sáng rõ.
Cả ngày hôm đó hai Bác cháu đi miết tới Quảng Nạp thì được tin buổi trưa bọn địch nhảy dù xuống khu vực cơ quan vừa chuyển.
Mỗi ngày gần Bác tôi lại được Người truyền cho những kinh nghiệm quý báu.
BÁC DẠY NGHIỆP VỤ CẢNH VỆ
Nhiệm vụ của chúng tôi là phải đảm bảo an toàn cho Bác, nhưng chính Bác lại rất quan tâm chỉ bảo cho chúng tôi những kinh nghiệm về phương pháp bảo vệ. Trước đây ở chiến khu phần lớn hoạt động của Bác bí mật nên lực lượng bảo vệ cũng ít lộ liễu. Hòa bình lập lại, vẫn chưa quen hoạt động ở thành phố, lại ít kinh nghiệm nên chúng tôi làm việc còn sơ hở, thiếu sót. Những lần như vậy chúng tôi đều được Bác nhắc nhở và chỉ bảo tận tình.
Khi về Hà Nội, chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu bố trí lực lượng canh gác và bảo vệ tiếp cận Bác nhưng vẫn còn có những sơ hở và nhiều chỗ chưa hợp lý. Một hôm đang ở trong xe trên đường đi công tác, Bác nói với tôi:
- Trước đây khi còn ở nước ngoài, Bác thấy họ thường dùng lực lượng bí mật bảo vệ, các chú thử nghiên cứu xem có áp dụng được không?
Vâng lời Bác dạy chúng tôi đã suy nghĩ trao đổi và xin phép Bộ cho thành lập một đơn vị bảo vệ lấy tên 40, nhiệm vụ của đơn vị này là hóa trang bảo vệ trên đường và địa điểm Bác đến công tác. Từ ngày đơn vị thành lập, chúng tôi đã đảm bảo được phương án bảo vệ khá chặt chẽ. Có những lực lượng bí mật giám sát hoặc phòng ngừa ở những nơi xung yếu. Tuy nhiên do trình độ còn non kém lại ít kinh nghiệm nên việc bố trí lực lượng còn lộ tiễu. Những lần đó Bác phê bình và góp ý tận tình.
Tôi còn nhớ lần Bác về thăm hợp tác xã Yên Duyên. Chiều hôm trước khi Bác đến, chúng tôi cử cán bộ đến nắm tình hình và tìm hiểu việc thu hoạch mùa màng của xã viên. Ban quản trị cho biết hiện nay hợp tác xã rất thiếu người, nhân đó chúng tôi nhận lời sẽ cử một số anh chị em trong cơ quan đến gặt giúp một buổi.
Sáng hôm sau chúng tôi cho lực lượng xuống hợp tác xã Yên Duyên nhận liềm hái ra đồng cùng gặt với bà con xã viên. Khoảng 7 giờ Bác đến, nhân dân đang gặt trên đồng trông thấy Bác đến chạy ùa về phía Người. Lực lượng của chúng tôi xen kẽ trong quần chúng. Bác ân cần thăm hỏi bà con xã viên về việc đồng án, kỹ thuật cấy lúa giăng dây, việc tổ chức gặt... Bác rất hài lòng. Năm nay lúa chiêm ở hợp tác xã Yên Duyên đạt 4,5 tấn/ha. Bác vui vẻ nói với mọi người:
- Như thế là tốt.
Bà con đang hướng về phía Bác, chăm chú lắng nghe những lời dạy bảo của Người, chợt tôi thấy Bác chỉ tay về một cô gái hỏi:
- Cháu có phái lính của chú Kháng không?
Cô gái bỗng đỏ mặt, ấp úng mãi mới nói được:
- Thưa Bác, cháu là học sinh đến gặt lúa giúp hợp tác xã ạ.
Bác lắc đầu cười đôn hậu. Trên đường về Bác nói với chúng tôi:
- Các cô các chú không giấu được Bác đâu. Bà con xã viên mặc áo nâu già nhưng các cô các chú mặc áo nâu non. Quai nón của nữ xã viên bằng vải đen, hoặc vải đỏ, các cô các chú thì quai nón ni lông, vậy là các cô các chú xã hội hóa chưa tốt.
Chúng tôi lại được Bác chỉ dạy một bài học về cách hóa trang và bố trí lực lượng.
Sau những lần được Bác chỉ bảo chúng tôi đã nghiên cứu đặc điểm nơi Bác đến thăm, chú ý bố trí anh em hóa trang cho phù hợp nên Bác phê bình ít hơn trước. Nhưng chúng tôi khắc phục được sơ hở này thì lại mắc thêm thiếu sót khác. Một năm vào ngày mùng hai Tết, Bác đến thăm cán bộ công nhân nhà máy hoa quả Hà Nội, sau khi thăm nhà máy xong, trên đường về Bác ghé vào một gia đình nông dân chúc Tết. Niềm vui và hạnh phúc lớn lao ấy đến với gia đình này thật đột ngột. Tin Bác đến chẳng mấy chốc lan ra. Nhân dân quanh đó ùa ra đứng quanh Người. Lực lượng cảnh vệ chúng tôi cũng hòa mình trong số quần chúng. Thấy một thanh niên đứng cạnh Bác mặc bộ com lê thắt cà vạt, Người hỏi:
- Cháu ở đâu?
Người thanh niên đó trả lời:
- Thưa Bác, cháu học ở trường Đại học Bách Khoa ạ.
Bác hỏi tiếp:
- Tình hình học tập và giảng dạy ở trường thế nào? Ai là hiệu trưởng?
Lần này thì anh thanh niên tỏ ra lúng túng, ấp úng mãi không trả lời đúng câu hỏi của Bác. Bác cười rồi vỗ nhẹ vào vai tôi, lúc đó đang đi bên Bác:
- Lính của chú phải không? Thế là bị Bác bao vây rồi.
Tôi không giấu được Bác, đành phải báo cáo thật và xin lỗi Bác. Chúng tôi lại được Người dạy thêm bài học về nội dung và hình thức hóa trang phải ăn khớp với nhau. Việc làm của chúng tôi vừa rồi chẳng khác nào trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.
Bác quan tâm chỉ bảo chúng tôi nhiều việc bổ ích và thiết thực trong công tác cảnh vệ, nhưng điều Bác nhắc chúng tôi nhiều nhất là phải biết dựa vào quần chúng nhân dân.
Năm 1969, Bác đi bỏ phiếu bầu cử hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, lúc đó sức khỏe Bác đã yếu đi lại rất khó khăn, mặc dù vậy Bác vẫn thực hiện nghĩa vụ của người công dân. Yêu cầu đặt ra là phải tìm một địa điểm xe có thể vào tận nơi bầu cử, Bác đi đến nơi bỏ phiếu không phải qua nhiều bậc lên xuống. Khảo sát một số nơi, chúng tôi đã tìm được hòm phiếu ở nhà thuyền Hồ Tây thuộc khu Ba Đình đạt yêu cầu đi lại. Còn thời gian Bác đến chúng tôi cũng tính toán chu đáo. Có ý kiến cho rằng để Bác bỏ phiếu trước giờ khai mạc nhưng không được vì như vậy trái với quy định thể lệ bầu cử. Hay bố trí lực lượng cảnh sát giữ trật tự khi Bác đến hòm phiếu? Suy đi tính lại thấy đều không ổn, sau cùng chúng tôi bố trí Bác đi vào buổi chiều. Lúc đó cử tri không đông như buổi sáng. Kết quả gần như chúng tôi mong muốn, Bác tiếp xúc được với nhân dân và khi Người bỏ phiếu không mất trật tự. Về đến Phủ Chủ tịch, Bác xuống xe. Tôi vừa đến gần Bác hỏi ngày:
- Chú có biết tại sao Nguyễn Hải Thần bị nhân dân ta ghét không?
- Dạ, vì chúng phản nước hại dân ạ.
Bác bảo:
- Không chỉ có thế mà còn bố trí bảo vệ lố lăng lắm.
Tôi chợt nhớ lại thời kỳ năm 1945, mỗi lần đi đâu Nguyễn Hải Thần thường ngồi xe có lính bảo vệ, lưỡi lê tuốt trần và còn đặt bốn khẩu đại liên diễu võ dương oai.
Tôi băn khoăn không biết Bác phê bình với cách bố trí lực lượng như thế nào, sau hỏi lại những đồng chí cùng ngồi xe với Bác được biết Bác nhìn quang cảnh nơi bỏ phiếu đã biết được ý định của chúng tôi bố trí lực lượng bảo vệ không muốn để nhân dân gần Bác.
Bác lại dạy chúng tôi một bài học về quan điểm và thái độ với nhân dân.
Ngoài những vấn đề nghiệp vụ, Bác còn khuyên chúng tôi nên học văn hóa, chính trị. Đặc biệt Người thường nhắc chúng tôi phái tích cực tập luyện võ thuật để có sức khỏe phục công tác. Bác là tấm gương sáng về tập luyện cho chúng tôi học tập.
Tôi còn nhớ cuối tháng 9.1945, tôi đang công tác ở Đại Từ (Thái Nguyên) thì nhận được lệnh về Hà Nội nhận công tác mới. Anh Cả cho biết tôi được Trung ương giao nhiệm vụ phục vụ bảo vệ Bác. Buổi trưa anh Cả dẫn tôi đến chào Bác, nghe tiếng tôi chào. Bác vui vẻ nói:
- Chú đã về đấy à.
Rồi Người ân cần thăm hỏi sức khỏe tôi và anh em còn công tác tận chiến khu, Bác cũng không quên hỏi thăm đồng bào vùng Tân Trào. Sau đó Bác nói đại ý:
- Ta đã giành chính quyền, nhưng tình hình còn khó khăn, phức tạp. Chú về cùng các chú khác giúp cho Bác một số việc. Anh em phải đoàn kết cảnh giác, giữ bí mật, cố gắng công tác tốt.
Tuy bận nhiều việc lớn của đất nước nhưng thỉnh thoảng buổi tối sau bữa cơm trước giờ đi ngủ, Bác vẫn dành ít phút chuyện trò thân mật với chúng tôi. Một hôm nhân lúc vui chuyện Bác hỏi tôi:
- Nghe nói chú giỏi võ phải không?
Tôi thưa với Bác:
- Thưa Bác, cháu ham thích võ nghệ và có học được chút ít.
Chú biết những môn gì?
- Thưa Bác cháu biết côn, quyền, kiếm mỗi thứ một ít.
Bác nhìn chúng tôi rất độ lượng:
- Trước đây ở nước ngoài Bác cũng học võ để rèn luyện sức khỏe, nhưng lâu ngày nên quyền Bác quên. Chú xem có bài nào dễ thì hướng dẫn Bác cùng tập.
Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời:
- Thưa Bác có bài Mai hoa quyền hợp với sức khỏe của Bác.
- Vậy sáng mai Bác cháu ta cùng tập nhé.
Tôi thật xúc động, Bác tuổi cao, sức yếu mà vẫn chăm tập luyện. Hôm sau 5 giờ sáng Bác đã gọi tôi dậy lên sân thượng nhà Bắc Bộ phủ tập quyền. Tôi làm động tác trước, Bác tập sau. Bài tập khá nhanh, chỉ vài buổi sáng đã thuộc cả bài. Tôi không thể quên có những đêm trăng thanh gió mát, trên mặt bằng ngôi nhà lớn, giống như trên một sàn tàu sóng biển xanh bao la, tôi thấy Bác múa quyền. Trong bộ bà ba giản dị, động tác của Bác khoan thai, mềm đẹp. Nhìn Bác tôi tưởng như ông tiên giáng trần, tuyệt đẹp.
Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Bác trở lại chiến khu Việt Bắc. Tuy cuộc sống khó khăn gian khổ, Bác vẫn khuyên chúng tôi phải siêng năng tập luyện để giữ gìn sức khỏe. Mỗi khi xây dựng nhà ở, Bác nhắc chúng tôi nên làm một cái sân nhỏ, kín đáo để Bác cháu có nơi tập luyện. Ở một vài nơi chúng tôi đã cố gắng làm được sân bóng chuyền. Ở rừng có được sân chơi bóng chuyền thì quả thật không phải dễ tìm. Phải có những cây to, tán lá giao nhau che kín được khoảng trống của sân, phòng khi máy bay trinh sát, mặt đất bằng phẳng và dọn sạch các gốc cây con. Chiều chiều sau giờ làm việc, Bác cháu vui vẻ ra sân. Bác tuy tuổi cao nhưng khi ra sân Người vẫn nhanh nhẹn không kém một cầu thủ thực sự, tuy nhiên những lúc quá say sưa anh em hay bỏ bóng vào chỗ Bác.
Bác rất vui, Người nói vui:
- Có giỏi thì tung vào "Tủ" đây này.
Bác cháu cười vang, trận đấu càng sôi nổi.
Bác cũng thích bơi. Những buổi chiều nếu không tăng gia, chơi bóng chuyền thì Bác bảo chúng tôi tắm suối. Mỗi lần Bác bơi, chúng tôi đều chú ý phân công đội hình xung quanh Bác để phòng những gì bất trắc xảy ra. Chúng tôi nói vui: Bác như chiếc máy bay Đa-cô-ta, còn chúng cháu như những chiếc bè vanh-xít đi theo bảo vệ. Bác cười vui với những câu nói đùa của chúng tôi.
Hòa bình lập lại, về Hà Nội trong điều kiện công tác và sinh hoạt có thay đổi, Bác vẫn luôn nhắc chúng tôi tập luyện. Một lần chúng tôi đang hướng dẫn cho anh em cảnh vệ mới tập võ thuật, Bác đi ngang qua thấy chúng tôi đang tập, Người đứng lại xem. Bác hỏi chúng tôi phương pháp tập luyện và chế độ ăn uống thế nào. Nghe xong, Bác nói:
- Các chú tập luyện như thế là tốt, nhưng không nên lệ thuộc vào bãi sẵn có, mà tập những chỗ không có bãi để quen với tình huống thực tế. Kẻ địch đánh ta nó không chờ nơi có bãi tập.
Vâng lời Bác dạy chúng tôi đã hướng dẫn cho anh em làm quen với những địa hình và tình huống thực tế. Năm 1969, được Bác cho phép chúng tôi đã biểu diễn võ thuật để Bác xem. Bác khen "các chú dã có tiến bộ nhưng cần cố gắng hơn nữa".
Điều Bác dạy bảo chúng tôi nhiều là phương pháp tập luyện. Có lần chúng tôi tập nhảy cao, Bác cũng dừng lại xem. Nhiều anh em chưa quen, có người co cả hai chân, có người lao cả người qua, có đồng chí sợ thì chui qua dây, Bác cho gọi chúng tôi lại, Người nói:
- Các chú muốn tập nhảy cao thì phải tập từ thấp lên cao và phải tập kiên trì thường xuyên.
Dừng một lát Bác nói tiếp:
- Ngày mai các chú hãy trồng hàng râm bụt ở lối đi này, mỗi lần đi ngang qua các chú nhảy qua theo độ lớn lên của nó. Như vậy các chú nhảy sẽ cao hơn.
Anh em chúng tôi bảo nhau thực hiện lời dạy của Bác. Hàng râm bụt mới trồng xinh xắn chả mấy bữa đã đâm chồi non xanh biếc, mỗi sáng chúng tôi nhảy qua 5 lượt. Hễ đi đâu về chúng tôi cũng phải nhẩy qua để vào đơn vị. Nhờ kiên trì tập luyện theo lời Bác dạy, hầu hết anh em đều nhảy qua 1,2m dễ dàng, nhiều đồng chí còn nhảy cao hơn nữa.
Ngày nay phong trào tập luyện của cán bộ chiến sĩ cảnh vệ lập được nhiều thành tích. Mỗi lần nhắc tới thành tích ấy, chúng tôi thường nói với nhau có thành tích vẻ vang này là nhờ lời dạy bảo năm xưa của Bác.
MỘT BÀI HỌC TRONG CÔNG TÁC CẢNH VỆ
Đầu năm 1963, bệnh xá Vân Đình được ngành y tế tuyên dương là lá cờ đầu trên toàn miền Bắc. Bác quyết định đến thăm để động viên phong trào. Tôi được cấp trên phân công đi chuẩn bị trước.
Bác chỉ thị không được báo cho ai biết trước để khi Bác đến thấy được thực tế. Vì vậy, khi đi chuẩn bị chúng tôi chỉ quan sát trực tiếp mà không hỏi địa phương cũng như các đồng chí ở bệnh xá.
Lúc Bác vào thăm bệnh xá là lúc anh chị em y sĩ, y tá đang khám bệnh và tiêm thuốc cho bệnh nhân. Bác đi thẳng xuống nhà ăn, nhà bếp, giếng nước, vườn cây trồng thuốc nam và nơi ở của cán bộ nhân viên. Khi Bác vào phòng khám bệnh, có bệnh nhân nhận ra Bác, mừng rỡ kêu lên "Bác, Bác Hồ", lúc đó mọi người mới biết và đến đứng quanh Bác. Bác hỏi thăm sức khỏe bệnh nhân, tình hình ăn uống, thuốc men và góp ý kiến với anh chị em y tế, y tá về công tác phục vụ. Bác vừa đi vừa nói chuyện chung quanh vườn thuốc, thì bỗng nhiên từ một ngôi nhà ngói ở ngoài đồng gần đó hàng mấy trăm mét, học sinh nghỉ học chạy ra xúm quanh Bác.
Ngôi nhà này khi tôi đi quan sát tưởng là cái nhà kho bỏ trống. Cùng lúc ấy bà con đi chợ Vân Đình về cũng tập trung ngoài hàng rào bệnh xá ngày càng đông. Trước tình hình đó chúng tôi lúng túng không biết làm sao đưa Bác ra cổng để lên xe về. Biết được sự lúng túng đó, Bác đứng ở một góc vườn vẫy mọi người lại hỏi chuyện hợp tác xã chuyện học hành, chuyện vệ sinh v.v... Thế là Bác gỡ được thế bí của chúng tôi. Thừa dịp, chúng tôi tập hợp anh chị em y sĩ, y tá, phục vụ ra xếp thành hai hàng dọc trước cổng để tiễn Bác ra về dễ dàng. Bác thấy chúng tôi sắp xếp trật tự ở cổng xong, bèn vẫy tay chào đồng bào rồi mới bước ra cổng, giữa những tiếng hô "Hồ Chủ tịch muôn năm, Hồ Chủ tịch muôn năm".
NHỮNG BUỔI HỌP CHI BỘ KHÔNG THỂ NÀO QUÊN
Từ trước ngày khởi nghĩa tháng 8.1945 đến suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, mấy anh em bảo vệ và phục vụ chúng tôi được vinh dự lớn là cùng sinh hoạt chi bộ với Bác. Thông qua những buổi sinh hoạt chi bộ, Bác đã dạy bảo và chúng tôi lớn lên từ những năm tháng đó.
Dạo ấy Bác làm việc nhiều lắm. Ban ngày đã vậy ban đêm cũng thế, tối nào Bác cũng làm việc đến tận khuya, nhưng Bác vẫn gương mẫu sinh hoạt chi bộ rất đều đặn. Để không làm mất nhiều thì giờ của Bác, các buổi họp chi bộ chúng tôi thường tổ chức ngắn gọn, chương trình họp được chuẩn bị trước. Dù bận nhiều việc, Bác đi họp rất đúng giờ. Đến họp bao giờ Bác cũng đem theo cuốn sổ tay có ghi những ý kiến sẽ phát biểu về nghị quyết của chi bộ. Ở chiến khu không có hội trường, bàn ghế cũng không có, mỗi lần họp Bác cháu cùng ngồi xếp vòng tròn quanh ngọn đèn dầu trên sàn nứa, cứ như buổi sum họp cha con trong gia đình vậy.
Lần nào họp chi bộ Bác cũng quan tâm đến việc giáo dục đảng viên, Bác chú ý chỉ cho chúng tôi những vấn đề mới để nâng cao tầm suy nghĩ của mọi người. Bác không nói dài, lời Bác như ánh sáng rọi đường giúp chúng tôi vững tin ở thắng lợi của cuộc kháng chiến và phấn khởi hướng về tương lai huy hoàng của Tổ quốc. Một hôm, Bác nói về tình hình thế giới. Bác nói về Liên Xô, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, sau khi đánh bại bọn phátxít trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại cứu loài người thoát khỏi hiểm họa chiến tranh, mấy trăm triệu nhân dân Liên Xô, dưới sự lãnh dạo của Đảng đang bừng lên khí thế mới, lao động quên mình để hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng Tổ quốc, nhanh chóng trở thành một nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, thành trì của hòa bình thế giới. Bác nói về sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và các nước anh em đối với cuộc kháng chiến của ta. Bác bảo sau này khi chúng ta đánh đuổi bọn thực dân xâm lược, chúng ta sẽ cùng hợp tác chặt chẽ nhiều mặt với Liên Xô, với các nước anh em để kiến thiết đất nước ta. Rồi Bác nhấn mạnh:
- Sự giúp đỡ của các nước anh em, bầu bạn rất to lớn và quý báu, chúng ta không bao giờ quên. Song điều quan trọng hơn nhiều là chúng ta phải tự lực cánh sinh, phải dùng bàn tay để xây dựng cơ đồ của ta.
Tầm nhìn của Bác rộng lớn quá, cho đến bây giờ, khi Đảng ta, nhân dân ta bắt tay vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, chúng tôi lại càng thấm thía lời dạy từ bao nhiêu năm trước.
Lần khác cùng mấy anh em quây quần quanh Bác, Bác phân tích về cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Bác nhắc đến gương các cháu nhỏ, các cụ bạc đầu cũng tham gia giết giặc lập công, và phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ và đều khắp từ đồng bằng Bắc Bộ, Khu 5, đến Nam Bộ. Bác bảo:
- Chúng ta không chỉ có quân đội đánh giặc, già, trẻ, gái, trai đều thi đua giết giặc lập công, thì trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.
Bác vừa nói vừa cười tươi nhìn chúng tôi. Bác nói tiếp:
- Đánh lâu dài phải gian khổ vất vả. Bác và các cháu cũng phải chịu đựng gian khổ mới giành được thắng lợi. Từ nay đi đường xa các chú không được kêu mệt nữa nhé. Bác cũng như các chú, cũng là xương là thịt, đi xa cũng mệt. Nhưng mỏi mệt thì phải cố gắng chứ, than ngắn còn thở dài không giải quyết được cái gì mà còn làm ảnh hưởng đến người khác.
Bác cháu cùng cười vui vẻ. Bác lái câu chuyện về với chúng tôi. Chẳng là trong chúng tôi khi đi công tác xa phải gồng gánh đi bộ, lúc đầu có một số đồng chí đi không quen nên không vui lắm, thỉnh thoảng cứ than ngắn thở dài. Bây giờ ngồi với Bác nghe Bác kể vậy chúng tôi mới thấy rõ thiếu sót của mình. Từ đó ai cũng hăng hái, đi xa bao nhiêu cũng vẫn vui vẻ, không còn tiếng than ngắn thở dài.
Tôi nhớ một hôm, lại cũng trong buổi họp chi bộ, Bác nói với chúng tôi về nhiệm vụ của người đảng viên. Bác bảo: "Cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta nhất định thắng lợi! ngày ấy không còn xa nữa. Khi nước nhà độc lập chúng ta quản lý cả đất nước, công cuộc xây dựng sẽ hết sức nặng nề và khó khăn. Cán bộ đảng viên lúc đó phải có trình độ khá hơn bây giờ mới đảm đương nổi nhiệm vụ cho nên mỗi chúng ta phải học tập. phải học tập chính trị và học tập văn hóa, học tập công việc của mình làm. Không có chính trị thì không hiểu đường lối chính sách của Đảng, không biết thực hiện thể nào. Không có văn hóa thì không tiếp thu được khoa học kỹ thuật mới. Nếu không muốn làm ông bụt ngồi trong chùa thì phải cố mà học.
Chúng tôi đi làm cách mạng với cái tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết, nhưng lúc đó trình độ và hiểu biết còn ít lắm, căm thù đế quốc mà tham gia cách mạng, chứ đã hiểu thế nào là đấu tranh giai cấp, là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản đâu. Bây giờ Bác bảo phải học tập để xây dựng đất nước sau này, chúng tôi thấy cần thiết nhưng mà khó quá. Học cái gì, học thế nào? Bác biết chúng tôi còn băn khoăn, lúng túng, Bác lại chỉ ra cách học tập thiết thực, đi từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ từng người. Trước hết là học tập lẫn nhau, người biết nhiều hướng dẫn người biết ít. Bác phân công anh Kỳ, anh Chiến dạy văn hóa cho chúng tôi. Còn học chính trị thì đích thân Bác phụ trách. Bác bảo chúng tôi theo dõi báo chí, rồi chỗ nào chúng tôi không hiểu Bác giải thích thêm. Làm theo lời Bác chúng tôi tiến bộ dần lên.
Chúng tôi được lớn lên từ những buổi sinh hoạt chi bộ với Bác là như vậy đó.
Nxb. Công an nhân dân
MỘT VÀI MẨU CHUYỆN VỀ ĐẠO ĐỨC TÁC PHONG CỦA BÁC Đại tá Phạm Lê Ninh
Nguyên Cục phó Cục Cảnh vệ - Bộ Công an
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 95 ngày sinh Bác Hồ kính yêu, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đã tổ thức cuộc họp mặt với các đồng chí trước đây được trực tiếp phục vụ, bảo vệ Bác. Tôi là một trong số 36 đồng chí được mời tham dự tọa đàm. Ban Tuyên huấn Trung ương và Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh đề nghị chúng tôi có trách nhiệm viết hồi ký, kể lại những mẩu chuyện về tác phong, đạo đức của Bác trong quá trình công tác chúng tôi ghi được để nhân dân, cán bộ, chiến sĩ hiểu sâu sắc thêm cuộc sống, hoạt động cách mạng vĩ đại của Người.
Những câu chuyện của chúng tôi rất nhỏ so với hàng trăm công trình nghiên cứu, hàng vạn trang sách đã viết về cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại của Người. Đó chỉ là những chuyện về cuộc sống bình thường, giản dị, nhưng vô cùng cao quý của Bác mà với trách nhiệm của người cảnh vệ, tôi được mắt thấy tai nghe.
Cuộc sống của Bác rất bình dị, trong chiến tranh cũng như hòa bình, ở trong nước hay khi đến thăm các nước anh em bè bạn trên thế giới, Bác vẫn giữ nếp sống thanh bạch cao quý đó.
Khi tiếp quản thủ đô Hà Nội, Trung ương bố trí Bác ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch. Ngôi nhà cao tầng với kiểu kiến trúc hiên đại uy nghiêm, lộng lẫy trong một khu vườn mênh mông bốn mùa rợp bóng cây xanh vốn là nơi của Toàn quyền Đông Dương đã được sửa sang lại để đón Bác. Chúng tôi được theo Người vào chốn thâm nghiêm đó, bất giác tôi nhớ lại chỉ cách đó không lâu người dân Hà Nội mấy ai đã được đến gần và mỗi lần đi ngang đâu dám nhìn thẳng. Còn bây giờ nó đã là tài sản của nhân dân, là Chủ tịch phủ. Tôi nhìn ra ngoài đường, trước cổng xanh hai chiến sĩ quân phục chỉnh tề bồng súng đứng gác, bên hàng rào trồng bằng cây được cắt tỉa gọn ghẽ, thấp thoáng một tốp em nhỏ cắp sách đến trường đang dừng lại ngắm nhìn ngôi nhà cao đẹp. Bác chỉ dạo quanh ngôi nhà một lượt rồi Người nói với chúng tôi:
- Ngôi nhà này đẹp đấy, nhưng Bác thấy có mùi thực dân. Các chú hãy quét dọn sạch sẽ, sửa chữa để làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi, còn Bác sẽ tìm nơi ở chỗ khác.
Sau khi đã xem khắp lượt, Bác chọn nơi ở trước đây là nơi ở của người thợ điện phục vụ trong phủ toàn quyền. Căn phòng này hẹp, trần thấp nên mùa hè rất nóng. Chúng tôi thấy Bác ở như thế sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của Người nên rất băn khoăn nhưng chưa biết cách gì hơn. Các đồng chí ở Bộ Ngoại giao trong một dịp công tác ra nước ngoài đã mua biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ do một nước tư bản sản xuất. Nhân một hôm Bác đi công tác, anh em phục vụ đã lắp máy điều hòa vào phòng của Bác. Chỉ sau ít phút chạy thử, nhiệt độ trong phòng giảm dần, ngoài trời nhiệt độ mùa hè oi bức mà căn phòng tựa một khoảng trời thu. Lúc đó ở Hà Nội máy điều hòa còn hiếm, anh em chúng tôi nhiều người mới biết lần đầu nên có đồng chí cứ tấm tắc khen và phấn khởi vì Bác đỡ phải nóng bức như trước.
Tuy vậy chúng tôi vẫn hội hộp chờ ý kiến của Bác. Về đến nhà bước vào phòng, chợt Bác dừng lại hỏi tôi:
- Chú ơi, hôm nay nhà có mùi gì khó chịu quá.
Chúng tôi nhìn nhau, chưa ai trả lời câu hỏi của Bác. Bây giờ mọi người mới nhớ ra trong chiếc máy điều hòa có một bình nước hoa tự động. Khi máy vận hành, van mở nước hoa tỏa ra không khí nên trong phòng lúc nào cũng phảng phất mùi thơm. Biết không giấu được Bác, các đồng chí phục vụ phải trình bày kỹ lý do về chiếc máy điều hòa. Bác nghe nhưng không tỏ thái độ gì. Chúng tôi nhìn nhau thở phào nhẹ nhõm. Nhưng chỉ đến buổi chiều, Bác cho gọi đồng chí phục vụ đến, Người nói:
- Các chú hãy đem chiếc máy điều hòa này cho anh em thương binh ở Hàng Bột. Hôm Bác đến thăm các chú ấy ở còn nóng lắm. Còn Bá thì chưa cần. Các đồng chí Trung ương khác còn chưa có, sao Bác lại được dùng.
Các đồng chí phục vụ hết lời đề nghị nhưng Bác vẫn không thay đổi. Thế là ngay chiều hôm ấy chúng tôi phải chuyển máy điều hòa cho anh em thương binh theo yêu cầu của Bác.
Bác ăn mặc rất giản dị. Người chỉ có hai bộ quần áo kaki dùng khi tiếp khách, ở nhà làm việc Bác thường mặc bộ bà ba nâu. Nhiều lần anh em phục vụ đề nghị Bác cho may thêm quần áo mới nhưng Bác không đồng ý. Có lần Bác đi thăm các nước, nhân dân quý trọng Người, họ tung hoa, áo quần Bác bị ố, giặt là không kịp. Các đồng chí phục vụ liền nảy ra sáng kiến may một bộ quần áo mới cũng bằng loại vải và màu sắc Bác đang dùng rồi giặt lại nhiều lần cho cũ trước khi đưa lên Bác. Nhưng chỉ lần đầu đã bị Bác phát hiện. Người phê bình ngay:
- Ai cho mấy chú may thêm. Bác đã có hai bộ rồi. Nhân dân còn đang thiếu vải mặc. Bác dùng như vậy là đủ.
Anh em phục vụ xin lỗi Bác rồi trình bày rõ lý do.
Nghe xong Bác bảo:
- Thế thì các chú phải nói cho Bác biết chớ không được may trộm.
Chúng tôi bảo nhau lần sau phải xin ý kiến Bác. Thế rồi dịp ấy, trời đã vào hè, nóng nực mà khi tiếp khách Bác vẫn mặc áo bằng vải kaki. Anh em phục vụ liền trao đổi và đề nghị Bác cho may hai chiếc áo sơmi dài tay và ngắn tay bằng vải mỏng để Bác thay đổi cho đỡ nóng. Chúng tôi nghĩ rằng lần này xin phép trước thế nào Bác cũng đồng ý, nhưng khi nghe đồng chí phục vực trình bày xong, Bác giải thích:
- Tiếp khách mà mặc áo đại cán là tôn trọng khách rồi. Bác không dùng áo sơ mi nữa.
Quả thật Bác không có áo sơ mi. Ngoài những bộ bình thường, Người còn mặc một bộ bằng len do chính phủ Tiệp Khắc tặng. Bác thường dùng khi đến thăm các nước xứ lạnh mà chúng ta vẫn thấy trong phim tài liệu.
Tôi còn nhớ khi về tiếp quản thủ đô, tới dự phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, hầu hết đại biểu ăn mặc khá tươm tất, hầu hết các vị đều mặc comlê thắt cà vạt. Bác vẫn dùng bộ đại cán cũ bằng vải kaki. Người không cài nút cổ vì tiết trời tuy đã sang thu nhưng còn hơi nóng. Thấy Bác đến, một cán bộ cao cấp ra cửa đón. Bác sờ vào cà vạt của đồng chí cán bộ đó và nói:
- Hôm nay là ngày gì mà chú ăn mặc trịnh trọng thế?
Đồng chí cán bộ lễ phép:
- Thưa Bác hôm nay là buổi họp đầu tiên của Chính phủ ở thủ đô nên mọi người muốn ăn mặc cho lịch sự.
Cụ Phan Kế Toại cũng ra chào Bác. Bác thấy cụ ăn mặc bộ đại cán. Người nói vui:
- Cụ Phan mặc thế này trông khỏe và đẹp trai lắm.
Mọi người ra đón Bác cũng cười vui vẻ nhưng sau đó không ai bảo ai tự mình đều bỏ cà vạt. Từ đó về sau trừ những khi đi công tác ở nước ngoài hay phải tiếp đoàn khách quốc tế, còn ở trong nước các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đều theo gương Bác ăn mặc giản dị, ít người dùng com lê cà vạt.
Lần Bác đi thăm Miến Điện, tôi được theo bảo vệ Bác. Thấy tôi ăn mặc khác ngày thường.
- Chú Ninh hôm nay cũng com lê cà vạt à?
Tôi lúng túng chưa biết trả lời Bác thế nào thì Thủ tướng lúc đó đang đứng bên Bác đỡ lời:
- Thưa Bác, lần này Bác đi thăm các nước tư bản, Bác cho phép anh em ăn mặc như thế cho lịch sự theo nghi thức ngoại giao.
Bác khoác tay Thủ tướng vừa đi vừa nói, tôi đi sau nên nghe được lời Bác nói với Thủ tướng:
- Không phải mình không muốn cho các chú ăn mặc đẹp. Mình rất muốn cho dân tộc Việt Nam ta ăn mặc đẹp. Nhưng chú biết đấy, Liên Xô sau khi chiến thắng phátxít Đức, thanh niên ba năm không thắt cà vạt, phụ nữ ba năm không thắt nơ, tình nguyện tiết kiệm để xây dựng đất nước. Còn ta nếu ai muốn cà vạt thì cần phải sơ mi, phải áo vét, mà như vậy thì tiền lương sao đủ, vậy thì chỉ còn cách bớt xén của công v.v...
Thật vô cùng xúc động và thấm thía những lời dạy ân cần của Bác đối với cán bộ trong điều kiện đất nước ta còn nghèo, chúng ta đang phải hàn gắn vết thương chiến tranh và cần kiệm dựng xây đất nước...
* *
*
Các thứ tiện nghi Trung ương dành cho Bác thứ nào thật cần thiết Bác mới dùng, cái gì chưa cần thiết, Bác đều cho trả lại cơ quan. Một lần Bác đi công tác xa, anh Trần Quốc Hoàn đem biếu Bác một cái két sắt để Bác đựng tài liệu, khi Bác về anh em phục vụ báo cáo với Bác, Bác cười rồi nói:
- Có cái gì quý thì các chú cũng đem biếu thì phòng Bác chứa sao hết. Ở ngoài đã có các chú cảnh vệ cảnh gác, ngay bên Bác cũng có cảnh vệ, nếu phải dùng đến két sắt thì hóa ra Bác không tin các chú à?
Sau đó Bác bảo chúng tôi chuyển két sắt trả lại cho anh Hoàn. Chiếc xe Pêvêda của chính phủ Liên Xô tặng, Bác dùng từ ngày đầu về tiếp quản thủ đô. Sau này khi chiếc xe đã cũ, anh em phục vụ có ý định đổi cho Bác chiếc xe khác mới và tốt hơn. Thấy vậy, Bác hỏi:
- Xe đã hỏng chưa?
Đồng chí lái xe phải báo cáo thật với Bác rằng xe chưa hỏng nhưng muốn đổi cho Bác xe khác tốt và mới hơn để đi nhanh cho Bác đỡ mệt. Bác cười rồi nói:
- Thế thì chưa đổi, ai cần đi nhanh thì dùng xe khác, ai thích sang thì lấy xe mới, còn Bác thì dùng xe này vì nó chưa hỏng.
Một hôm đồng chí lái xe đánh xe ra đưa Bác đi công tác thì xe trục trặc chưa phát máy được, đồng chí lái xe trình bày với Bác vì xe quá cũ rồi nên máy không nhạy, và định xin Bác cho đổi xe nhưng khi thấy xe ra chậm hơn mọi ngày và nghe đồng chí lái xe báo cáo, Bác rất độ lượng, giọng Người ấm áp:
- Lần sau chú hãy sửa chữa cho cẩn thận kẻo nhỡ việc của Bác.
Thế là đồng chí lái xe không còn lý do đề nghị đổi xe nữa. Chiếc Pêvêda ấy Bác dùng cho đến ngày Người đi xa.
Trước kia khi còn ở quân đội chúng tôi đã từng được nghe kể chuyện về món "muối Việc Minh" và những bữa ăn thanh đạm của Bác. Sau này về làm công tác cảnh vệ, đất nước đã hòa bình, tôi nghĩ chắc Bác không còn vất vả như xưa. Nhưng khi được vinh dự trực tiếp bảo vệ Bác, tôi thật không tưởng tượng được bữa ăn của Chủ tịch nước lại đạm bạc đến thế. Bữa cơm của Người thường chỉ có ít món: dưa giá muối xổi hoặc cà muối, một bát canh nhỏ, vài lát ớt thái mỏng trong chén nước mắm với một miếng thịt lợn hoặc khúc cá kho khô, nhưng nếu bữa nào có thịt thì Bác không dùng cá và ngược lại. Các đồng chí phục vụ thấy Bác ăn uống như vậy sợ không đảm bảo sức khỏe nên đề nghị Bác cho tăng thêm món ăn nhưng Bác đều từ chối. Bác chỉ cho thay đổi món rau dưa tùy theo mùa mà thôi. Khi nào có khách Bác mới cho giết gà. Nếu muốn bồi dưỡng cho Bác thì các đồng chí phục vụ phải nói rằng giết một con gà nhưng đã chia làm bốn, ba phần đã gửi đi biếu các đồng chí khác trong Bộ Chính trị, còn một phần nấu phục vụ Bác, có vậy Bác mới đồng ý. Thế nhưng nếu có món ăn ngon Bác không chịu ăn một mình bao giờ, Người thường cho mời anh Tô, anh Văn... hoặc các anh em khác. Anh Cần nhiều năm phục vụ nấu ăn cho Bác kể lại, thời kỳ ở Việt Bắc thỉnh thoảng anh em săn bắn được thịt rừng đem về nấu, Bác cháu cùng ăn, Người thường khen ngon. Sau này ở Hà Nội tôi thường đi bắn các loại chim, có hôm bắn được sâm cầm về phục vụ Bác... Bữa nào biết có món ăn tự tay chúng tôi đi săn về và chế biến Bác rất vui lòng. Bác ăn uống rất điều độ, không chỉ ở nhà mà cả khi đi dự liên hoan, chiêu đãi. Một lần Bác đến thăm sứ quán Liên Xô, đồng chí đại sứ chiêu đãi Bác bữa tiệc rất sang. Các đồng chí Liên Xô luôn tiếp thức ăn cho Bác, nể bạn Bác không nỡ từ chối, Người ghé tai tôi nói nhỏ: "Chú hãy giúp Bác" rồi Bác gắp thức ăn cho tôi.
Nếu đi thăm địa phương trong một ngày, Bác không dùng cơm ở tỉnh. Trước hôm đi Bác dặn chúng tôi nấu xôi từ chiều hoặc sáng sớm từ 3 giờ sáng. Bác bảo:
- Các chú lái xe, bảo vệ thì ăn xôi và thịt, còn Bác đem theo cơm nắm, dọc đường chỗ nào sơn thủy hữu tình Bác cháu ta nghỉ lại ăn cơm...
Nhiều lần địa phương mời Bác dùng cơm, nhưng Bác đều từ chối. Bác nói vui với chúng tôi:
- Nếu nể tình chiêu đãi thì họ cho Bác cháu mình một bữa nhưng sẽ hết cả một con bò. Như vậy Bác đến thăm bốn tỉnh thì kinh tế sẽ lạm phát.
* *
*
Bác tập luyện và làm việc rất khoa học, nhất là tác phong giờ nào việc ấy. Những năm tháng được sống gần Bác tôi đã thấy rõ điều đó. Hàng ngày, Bác thường dậy lúc 5 giờ, Bác tự làm lấy việc vệ sinh của mình. Người không để cho ai làm thay. Bác nói: "Việc gì có thể làm được thì mình phải tự làm lấy". Bác múc nước ao pha với nước tiểu rồi tưới cho hai cây dừa trồng trước nhà sàn. Bác chăm chút vun tưới cho cây tưới nhiều hay ít, độ đậm thế nào Bác đều tính đến sự phát triển của mỗi cây. Chính nhờ Bác chăm bón mà có lúc cây dừa bị sâu bệnh sắp chết đã trở lại xanh tươi.
Bác tập thể dục đều đặn bất kể thời tiết thế nào. Ngày nắng Bác tập ở ngoài trời, ngày mưa Bác tập trong hành lang nhà sàn. Bác thường tập bài Thái cực quyền và luyện thể lực bằng cách kéo lò xo. Có lần Bác bị yếu một bên chân và tay, Người đã kiên trì luyện tập để chữa bệnh. Bác cầm quả bóng quần vợt ném vào cái rổ do đồng chí cảnh vệ cầm ở cự ly khác nhau, lúc đầu từ 20-30cm dần dần Bác ném cách xa bốn năm mét. Sau một thời gian cánh tay cử động bình thường, Bác lại viết và đánh máy chữ. Với bên chân bị yếu Bác cũng tập tương tự phương pháp trên bằng cách đá vào quả bóng được buộc dây treo ở khoảng cách khác nhau... Cứ như vậy sau một thời gian chân Bác cũng đi lại được bình thường.
Buổi sáng Bác làm việc từ 7 giờ 30. Ngoài các bữa ăn và nghỉ buổi trưa, Bác làm việc đến 23 giờ mới nghỉ. Trừ những lúc ốm đau, mười mấy năm trời tôi vẫn thấy Bác giữ nguyên tác phong làm việc như vậy, tuyệt không thay đổi.
Bác làm việc rất sâu sát, gần gũi thực tế. Người thường nhắc chúng tôi:
- Các chú phải biết giữ bí mật, một mặt phòng ngừa kẻ địch, mặt khác để Bác biết sự thật giáo dục cán bộ, nhân dân.
Bác đến nhà hát lớn dự mít tinh, hội nghị nhiều lần nhưng ít ai biết Bác đến bằng đường nào. Cả đến chúng tôi cũng không chủ động được. Có lần xe đang hướng về cửa chính thì Bác bảo chúng tôi: "Nay ta đi cửa sau nhé". Cuối buổi nói chuyện, Bác thường bắt nhịp bài hát "Kết đoàn". Anh em cảnh vệ rất quen từng tình tiết này, bởi vì bài hát mang đầy tính chiến đấu ấy khi đã cất lên lập tức mọi người hưởng ứng và lời ca bắt đầu thì tiếng vỗ nhịp cũng vang theo. Có ai hát mà không khỏi vỗ tay và lúc hai bàn tay vỗ nhịp thì người ta không cầm cái gì khác. Chính lúc ấy mọi người say sưa theo bài hát thì Bác đã ra về hết sức nhanh nhẹn. Bác đến thăm các địa phương thường ít khi cho chúng tôi biết trước vì có những lần bố trí bảo vệ không khéo đã để lộ bí mật. Tôi còn nhớ có lần Bác dự định đến thăm trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Bác cho tôi tôi đến dặn:
- Chú đến trường nắm tình hình rồi về báo cho Bác biết.
Tôi đến trường làm theo lời Bác dặn. Tôi báo cáo tình hình của trường cho Bác. Thấy Người không nói gì tôi đến hỏi:
- Thưa Bác, bao giờ Bác đến thăm trường?
Bác trả lời:
- Khi nào đi thì Bác nói.
Chúng tôi đã chuẩn bị phương tiện và lực lượng sẵn sàng nhưng những ngày sau đó Bác vẫn làm việc bình thường. Bỗng một hôm Bác bảo chúng tôi đi công tác. Mãi đến khi lên xe Bác mới cho biết Người đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc. Vì đã có sự chuẩn bị trước nên tổ cơ động có 12 đồng chí lập tức đến trường làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Bác đến thăm bất ngờ nên mọi hoạt động của trường vẫn bình thường. Nơi đầu tiên Bác đến là bếp ăn tập thể, lúc ấy trước giờ nghỉ, thức ăn đã được bày sẵn. Cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt nhiều người là ở đây rất nhiều ruồi, Bác không hài lòng, Người lấy tay xua ruồi rồi nói với cán bộ nhà trường:
- Trường Đảng lấy tên của Bác mà để học viên ăn uống mất vệ sinh thế này à?
Đến một nơi khác, thấy cơm thừa vương vãi nhiều xung quanh nơi rửa bát và rãnh nước, Bác liền phê bình:
- Mang tiếng là trường chính trị cao nhất của Đảng, nếu biết các chú làm thế này thì nhân dân không bằng lòng đâu.
Các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà trường xin nhận lỗi với Bác và hứa sẽ cố gắng sửa chữa khuyết điểm. Tuy vậy trên đường về tôi thấy Bác không vui. Nhân đó Bác nói với chúng tôi:
- Nếu các chú biết trước thì làm sao Bác thấy được thực tế nhà trường.
Cách một tuần sau hôm Bác đến thăm, trường Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo lên Phủ Chủ tịch, nội dung đại ý: Thực hiện lời Bác dạy, trường đã tổ chức một đợt tổng vệ sinh, diệt được nhiều ruồi, tiếp tục diệt đến khi không còn một con và sẽ nuôi mười con lợn không để lãng phí lương thực.
Sau khi nghe đồng chí thư ký báo cáo, Bác nói:
- Các chú ấy biết nói chính trị mà chưa biết chăm lo đời sống cho học viên.
Dừng lại một chút, Bác nói tiếp:
- Ngày xưa ở nước Nga có nhà vua Butskin bị quan lại che mắt không thấy được đời sống nhân dân. Các chú giúp việc cho Bác phải để Bác thấy được sự thực, đừng nên bắt chước những người giúp việc Butskin.
Bác không chỉ quan tâm đến đời sống của nhân dân mà đối với các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Bác cũng muốn biết hoàn cảnh và đời sống thực tế của các đồng chí đó. Bác dặn tôi:
- Bác giao cho chú phải biết nhà của các đồng chí Trung ương, Bộ trưởng... để khi nào rỗi, Bác đến thăm gia đình...
Bác đã đến thăm gia đình của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Trung ương, Bộ trưởng, nhân sĩ trí thức... Bác đến thăm nhà ai thường không báo trước, cả đến chúng tôi khi đã lên xe Bác mới cho biết nơi đến. Bác nói:
- Mình đến người ta chưa chuẩn bị càng tốt.
Những cuộc đến thăm của Bác đều đem đến cho gia đình các đồng chí không khí vui tươi, tình cảm thân thiết và cảm động. Qua việc đến thăm, Bác muốn thấy đời sống, sinh hoạt thực tế của cán bộ lãnh đạo khi Đảng đã cầm quyền. Tuy vậy, vì công việc bận nhiều mà Bác chưa đến thăm hết dược gia đình các đồng chí mà Người mong muốn.
Bác rất quan tâm dấn đời sống của nhân dân. Một lần Bác nghe nói tại một cửa hàng ăn uống ở phố Tràng Tiền chỉ bán bánh bao cho khách ăn tại chỗ, không được đem về nhà khiến dư luận nhân dân bất bình, Bác nói:
- Như vậy là thiếu ý thức phục vụ nhân dân, cần phải sửa đổi cách bán hàng ngay.
Vì muốn biết đời sống và sinh hoạt của nhân dân nên Tết năm 1963, Bác đi thăm chợ Đồng Xuân.
Bác rất hài lòng vì buổi thăm chợ được giữ bí mật và Bác đã thấy được một phần thực tế đời sống của nhân dân thông qua phiên chợ thủ đô vào dịp Tết cổ truyền của dân tộc.
Bác đã đi thăm hầu hết các địa phương ở các tỉnh miền Bắc. Bác đi thăm để động viên nhân dân và kiểm tra tình hình lãnh đạo của các cấp ủy Đảng ở địa phương.
Có lần Bác nói với đồng chí Nguyễn Chí Thanh và các đồng chí lãnh đạo khác:
- Một điều đáng mừng là Đảng đã cầm quyền nhưng cũng đáng lo là cán bộ dễ lộng quyền không quan tâm đến đời sống của nhân dân.
Có địa phương khi Bác đến thăm, cả xã chỉ có bốn cái giếng, trong đó chỉ có một giếng tốt, còn lại đều vẩn dục. Bác gọi bí thư, chủ tịch xã đến phê bình:
- Tại sao các chú phụ trách trước dân mà để cho cả xã chỉ có bốn cái giếng, các chú có biết vì không giữ vệ sinh mà chín mươi phần trăm dân ta đau mắt hột không. Các chú có biết rằng các cháu là tương lai của đất nước, các cháu sau này sẽ là chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ, bác sĩ, kỹ sư. Vì vậy các chú không được để các cháu đau mắt hột.
Đến thăm các nơi, ở đâu Bác cũng sâu sát giáo đục cán bộ và luôn quan tâm đến đời sống nhân dân. Bác phải lo nhiều việc lớn của đất nước nhưng những việc nhỏ Bác đều rất quan tâm, nhất là thực hành tiết kiệm. Nhiều câu chuyện và tấm gương của Bác về cần kiệm đã được viết thành sách để mọi người học tập. Tôi chỉ kể thêm một vài chuyện nhỏ.
Một hôm thấy trời đã sáng nhưng khu vực các đồng chí công an vũ trang ở còn nhiều đèn điện ở ngoài đường chưa tắt. Bác bảo tôi:
- Chú đến nhắc các chú ấy phải tiết kiệm khi dùng điện.
Thấy một số anh em cảnh vệ khi rửa tay, rửa mặt cứ để vòi nước chẩy liên tục, không đóng lại, Bác nhắc nhở:
- Nếu các chú dùng chậu hứng nước thì chỉ một chậu có thể đủ dùng. Các chú để nước chảy như vậy thì tốn gấp chục lần. Nếu ở Hà Nội đâu cũng đùng như vậy thì thật lãng phí.
Trong khu vực Phủ Chủ tịch có nhiều bồn hoa, chị em ở công ty công viên thường đến trồng hoặc chăm bón hoa các loại. Vườn hoa bốn mùa lúc nào cũng rực rỡ, làm tăng thêm vẻ đẹp nơi Bác ở và làm việc. Mỗi lần công nhân đến trồng hoặc chăm bón hoa chúng tôi thường cử anh em cảnh vệ bảo vệ, kiểm tra khu vực công nhân làm việc. Thấy vậy, Bác nói:
- Công các chú đứng canh người ta làm thì các chú tự tay làm lấy có hơn không.
Bác luôn quan tâm theo dõi tình hình. Hàng ngày Bác dành khoảng giờ để đọc sách báo phát hành ở thủ đô và các địa phương. Một lần Bác đọc báo Thái Nguyên thấy đăng tin một thanh niên đánh vợ rất dã man. Bác gạch rất đậm tin này và chuyển sang anh Tô đề nghị xác minh và có biện pháp xử lý ngay hành vi ngược đãi vợ của anh thanh niên nọ.
Lần khác báo Thanh Hóa đăng tin có địa phương bắt được con trăn to bằng vành xe đạp. Bác phê "vô lý" và đề nghị xác minh. Qua xác minh được biết con trăn ấy rất dài. nếu đem cuộn lại thì to bằng vành xe đạp...
* *
*
Được vinh dự phục vụ bảo vệ Bác là phần thưởng vô cùng cao quý cho mỗi chúng tôi. Tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng, những lời dạy bảo ân cần của Người luôn ở trong trái tim chúng tôi. Trong từng suy nghĩ, trong mỗi việc làm tôi luôn nguyện làm tốt, làm tốt hơn nữa để xứng đáng với tấm lòng độ lượng và tình thương bao la của Bác.
Nxb. Công an nhân dân
NHỮNG THÁNG NGÀY KHÔNG THỂ NÀO QUÊN Đại tá Xuân Giao
Nguyên Cục phó Cục Cảnh vệ - Bộ Công an
Trong những năm kháng chiến, tuy đã già nhưng mỗi lần đi họp Bác thường đi bộ. Có một hôm Bác muốn sang cơ quan giao tế làm việc cơ quan này cách nơi Bác ở khá xa. Chúng tôi đã đóng ngựa sẵn sàng để mời Bác đi, nhưng Bác bảo:
- Bác sẽ đi bộ, ngựa để chú T. đi, vì chú ấy còn mệt.
Khi qua những con suối nước chảy mạnh, chúng tôi báo cáo xin phép để được cõng Bác. Bác cười rồi nói vui:
- Các chú cõng thế nào được Bác.
Chúng tôi đành đi bên Bác để Bác vịn, nhưng Bác cũng không chịu, Bác nói:
- Chú để mặc Bác.
Thế là chúng tôi chỉ còn cách phân công một vài đồng chí lên phía trên để chắn cho dòng suối đỡ chảy mạnh, chỉ để lại một đồng chí đi gần bảo vệ Bác. Một tay Bác chống gậy, một tay Bác xách đôi dép, chân Bác bước lần theo từng hòn đá một. Cứ như thế Bác lội được hết con suối. Khi Bác đặt chân lên bờ, anh em chúng tôi mới hết lo.
Chỉ những lần Bác đi họp gấp, đường lại khó đi Bác mới chịu đi ngựa. Trong hoàn cảnh kháng chiến, ta còn nhiều khó khăn nên Bác đi Công tác thường chỉ có một đồng chí báo vệ đi ngựa theo Người. còn hai đồng chí đi bộ. Đi bộ mà chạy theo ngựa thì quả là vất vả. Thấy vậy Bác không đồng ý để hai đồng chí này theo. Bác bảo:
- Hai chú về đi.
Chúng tôi đành phải dừng lại để Bác đi xa rồi mới chạy theo. Tưởng thế là ổn, bỗng nhiên Bác ngoảnh lại phát hiện được chúng tôi, Bác nói với đồng chí đi ngựa theo Bác:
- Chú bảo hai chú kia về đi.
Lần ấy chúng tôi đành quay trở lại. Sau đó chúng tôi bàn nhau phải đi xa Bác chút nữa và khi Bác quay lại thì kịp thời núp xuống. Tới địa điểm chúng tôi cũng phải hết sức khéo léo để Bác đừng biết. Nhưng không ngờ một hôm Bác lại phát hiện ra chúng tôi. Bác hỏi:
- Hai chú đi đường nào mà đến đây nhanh thế?
Một đồng chí lúng túng thưa với Bác:
- Dạ thưa Bác, chúng cháu đi đường tắt ạ.
Bác biết chúng tôi nói chưa thật nhưng Bác nhìn chúng tôi cười độ lượng rồi nói vui:
- Ừ, thế lần sau các chú đưa Bác đi đường tắt cho gần.
Nhưng là những chiến sĩ cảnh vệ, chúng tôi làm sao có thể yên tâm được khi để Bác đi một mình...
VIÊN ĐẠN BỌC ĐƯỜNG
Vào một buổi chiều mùa hè năm 1954, dưới bóng mát của rừng Việt Bắc, đơn vị chúng tôi tập trung đi học tập chính sách về tiếp quản thủ đô. Ai cũng vui sướng vì sau bao năm xa thủ đô nay lại trở về trong tư thế người chiến thắng, các đồng chí quê ở Hà Nội lại càng phấn khởi, nét mặt ai nấy đều rạng rỡ, vui tươi nói cười luôn miệng.
Đơn vị đang học thì được tin Bác đến thăm. Mọi người vô cùng phấn khởi. Chúng tôi náo nức chuẩn bị đón Bác.
Khoảng 3 giờ chiều, Bác đến. Bác mặc quần áo xuân hè kiểu bộ đội, Bác hơi gầy nhưng khỏe mạnh, dáng Bác đi nhanh nhẹn, đôi mắt Bác rất sáng. Khi Bác tới gần, đồng chí trưởng đoàn hô đơn vị đứng nghiêm rồi chạy lại báo cáo với Bác. Bác tươi cười chào mọi người. Tiếng vỗ tay, tiếng hô reo mừng vang lên như sấm, không khí bừng lên náo nhiệt. Bác giơ tay ra hiệu cho chúng tôi yên lặng. Bác nói:
- Hôm nay các chú học tập chính sách để về tiếp quản thủ đô, Bác đến thăm và căn dặn các chú mấy điểm.
Tiếng vỗ tay lại vang lên tưởng như không dứt, Bác lại phải giơ tay làm hiệu yên lặng. Cả khu rừng dường như cùng yên lặng nghe tiếng nói của Bác.
- Về tiếp quản thủ đô, đây là thành phố mới được giải phóng, nhân dân rất phấn khởi, tin tưởng trước những thắng lợi to lớn của chúng ta, ngày đêm mong chờ giải phóng, nhưng trình độ giác ngộ, hiểu biết về chủ trương chính sách của Đảng, chính phủ còn bị hạn chế, kẻ địch lại tìm mọi cách tuyên truyền, xuyên tạc, cho nên các chú về tiếp quản phải tích cực tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng để nhân dân hiểu. Bản thân mỗi chú phải gương mẫu chấp hành thật tốt thật nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách của Đảng. Đối với kẻ địch các chú phải hết sức đề cao cảnh giác, đề phòng âm mưu địch phá hoại ta...
Ngừng một lát. Bác hỏi chúng tôi:
- Các chú có biết "viên đạn bọc đường" là gì không?
Mọi người còn ngơ ngác chưa hiểu như thế nào, Bác nói tiếp:
- Trong kháng chiến, Bác cháu ta ở rừng đã quen, chịu đựng gian khổ đã nhiều rồi. Bây giời về tiếp quản, sống ở thủ đô, các chú thấy cái gì cũng mới cũng lạ. Chớ có học đòi. Các chút phải cảnh giác với "viên đạn bọc đường", đó lại những âm mưu của địch dùng tiền tài, gái điếm để mua chuộc, dụ dỗ cán bộ, chiến sĩ ta. Các chú có hiểu không?
Mọi người như đã hiểu ý Bác, phấn khởi trả lời:
- Thưa Bác chúng cháu hiểu ạ!
Bác tiếp tục căn dặn chúng tôi:
- Ở ngoài mặt trận chiến đấu có ác liệt, không may các chú bị một viên đạn của địch bắn phải, có khi chú bị thương nhẹ, về đây các chú không chịu tu dưỡng, không chịu rèn luyện, thiếu ý thức cảnh giác cách mạng thì dễ bị mua chuộc, sa ngã vì "viên đạn bọc đường" bởi thế cho nên rất nguy hiểm.
Chúng tôi chăm chú lắng nghe như nuốt lấy từng lời Bác. Tiếng Bác đầm ấm như người cha âu yếm răn dạy các con...
- Bác lấy ví dụ như các chú trèo lên đỉnh một ngọn núi cao, khi trèo lên phải có quyết tâm. Phải vượt qua bao nhiêu gian khổ, khó khăn... Nhưng khi gần đến đỉnh núi, các chú chớ có chủ quan lơ là ngắm nhìn mây nhìn gió, sơ ý trượt chân sẽ ngã lăn xuống vực sâu, nguy hiểm chết người. Các chú có thấy như vậy không?
- Thưa Bác, đúng ạ!
Trước lúc ra về Bác còn căn dặn chúng tôi phải chịu khó học tập, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng đã trao cho.
Về tiếp quản thủ đô, chúng tôi đã nghiêm chỉnh chấp hành lời dạy của Bác. Chúng tôi luôn luôn ghi sâu lời dạy của Bác, kiên quyết chiến thắng "viên dạn bọc đường".
TÌNH THƯƠNG YÊU CỦA BÁC
Vào một buổi chiều mùa thu năm 1964, tôi nhận được chỉ thị của trên cho biết, sáng mai Bác sẽ đến làm việc và nghỉ tại địa điểm đơn vị X. Tôi liền đến ngay địa điểm để phổ biến nhiệm vụ bảo vệ Bác để anh em trong đơn vị chuẩn bị.
Núi rừng bao phủ một lớp sương dày đặc. Khi con chim rừng chưa cất tiếng hót chào ngày mới, toàn phân đội đã tập hợp đầy đủ. Nhiệm vụ được phổ biến chính thức. Niềm hân hoan phấn khởi bừng lên trên nét mặt mọi người. Cái tĩnh mịch của núi rừng bị phá tan bởi những bước chân rộn ràng, hăm hở của các chiến sĩ. Toàn phân đội đã triển khai làm nhiệm vụ, số anh em được phân công đón Bác, đội ngũ chỉnh tề.
Tiếng động cơ vọng tới từ khu rừng xa. Tất cả chúng tôi đều hướng về phía đó, hồi hộp chờ đợi.
Đúng 7 giờ chiếc xe màu sữa đã hiện ra. Tôi nghe tiếng reo: Đúng xe của Bác rồi!
Giờ phút chờ mong đã đến. Tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô vang lên, kéo dài không ngớt. Bác bước ra khỏi xe tươi cười giơ tay vẫy chào mọi người. Lòng chúng tôi rạo rực, ai cũng muốn chạy ùa lại để được gần Bác. Tuy nhiên chúng tôi vẫn giữ nguyên hàng ngũ chỉnh tề. Bác đi thẳng về phía chúng tôi. Trời hôm nay giá lạnh nhưng nhìn dáng Bác đi nhanh nhẹn, da Bác hồng hào, chúng tôi hết sức phấn khởi.
Vừa đến gần hàng quân, Bác hỏi ngay:
- Ở trên này, các chú có khỏe không?
- Thưa Bác, chúng cháu khỏe ạ?
Tiếng trả lời gọn gàng và rất đều.
Bác hỏi một chiến sĩ trẻ:
- Chú năm nay bao nhiêu tuổi?
- Thưa Bác năm nay cháu hai mươi hai tuổi.
Bác hỏi tiếp:
- Ở đây các chú có tổ chức học văn hóa không? Tăng gia được nhiều không?
- Thưa Bác, chúng cháu trồng được nhiều sắn và lúa lắm ạ!
- Nhiều là bao nhiêu?
Có những tiếng trao đổi xì xào, đồng chí chỉ huy đơn vị thưa:
- Dạ... thưa Bác, mỗi chúng cháu tự túc được hai tháng gạo ạ.
Bác cười tươi:
- Các chú làm được như thế là tốt. Ở đây sẵn đất các chú cần tích cực tăng gia hơn nữa để cải thiện. Nhưng Bác cấm các chú phá rừng đấy. Các chú nghe rõ không?
- Thưa Bác rõ ạ!
Bác dặn tiếp:
- Các chú ở trên này phải chịu khó học tập, nâng cao cảnh giác, giữ bí mật và sẵn sàng chiến đấu. Phái đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, chịu khó rèn luyện, giữ gìn sức khỏe cho tốt.
Chúng tôi đứng im phăng phắc nghe như nuốt lấy từng ý, từng lời dạy của Bác. Bác nói tiếp:
- Ở đây các chú có được xem phim không?
Mọi người còn đang lúng túng chưa biết trả lời Bác thế nào, bỗng đồng chí M. đứng ở hàng sau dã báo cáo với Bác:
- Thưa Bác chúng cháu có được xem nhưng ít lắm ạ.
Bác quay lại hỏi một đồng chí được đi theo Bác:
- Bác đã dặn mỗi tháng cho các chú ở đây một tối phim sao lại ít?
Đồng chí đó chưa kịp trả lời, Bác nói:
- Đấy Bác chỉ thị mỗi tháng cho các chú một tối phim, các chú có tán thành không?
Thế là tiếng vỗ tay lại vang lên.
Bác nói tiếp:
- Ở đây các chú biết câu cá không?
- Thưa Bác có ạ!
Bác dặn:
- Ở đây gần sông, các chú phải tranh thủ những ngày và giờ nghỉ để câu cá mà cải thiện.
Niềm xúc động dâng lên dào dạt trong mỗi chúng tôi, nhiều đồng chí không cầm được nước mắt. Chúng tôi nghĩ: Bác còn phải lo nhiều việc cho dân, cho Đảng thế mà vẫn lo đến những việc sinh hoạt bình thường cho chúng tôi. Chúng tôi muốn thốt lên: Bác ơi, Bác thương chúng cháu nhiều quá.
Sau đó Bác đi xem từng nơi ăn chốn ở của chúng tôi. Chợt Bác trông thấy đồng chí nữ bụng mang thai đã lớn đang làm ở công trường. Bác nói với chúng tôi:
- Các chú cần phải chăm lo giữ gìn sức khỏe cho cô ấy.
Nghe Bác nói chúng tôi vô cùng xúc động.
Thật là tình thương yêu của Bác bao la như trời như biển.
Khi đến phòng câu lạc bộ, Bác thấy sách báo tranh ảnh sắp xếp rất gọn gàng. Chúng tôi nghĩ chắc sẽ làm Bác vui lòng. Song cái ngăn nắp được bố trí trước của chúng tôi làm sao có thể giấu Bác được. Bác tươi cười nhìn chúng tôi rồi nói:
- Hôm nay các chú biết Bác lên thăm nên sắp đặt lại phải không?
Không ai dám trả lời, chúng tôi liếc nhìn nhau lúng túng. Bác đã thấy sự bối rối của chúng tôi. Bác nói tiếp, giọng Người ấm áp:
- Bộ đội thường xuyên phải sống có tổ chức, phải ngăn nắp gọn gàng, có như thế mới sẵn sàng chiến đấu được.
Từng lời dạy của Bác đã in sâu trong tận đáy lòng chúng tôi.
Thấy ở phía ven rừng có mộ số cán bộ, chiến sĩ đang đào công sự, thế là Bác đi thẳng tới phía đó. Chúng tôi ai nấy đều hồi hộp, lo lắng vì anh em đào công sự ở tận giữa sườn đồi, đường đến đó đất đá mấp mô và dốc rất khó đi, khỏe như chúng tôi đi lại cũng thấy vất vả, thế mà Bác đã nghĩ đến đó, lòng chúng tôi như thắt lại. Thương Bác quá, nhưng chẳng ai dám ngăn Bác cả. Tôi vội tìm ngay một chiếc gậy để Bác chống, chúng tôi ai cũng lo chỉ sợ Bác ngã, nhưng Bác vẫn kiên quyết không dùng gậy chống. Chúng tôi chỉ còn biết đi gần phòng khi Bác bị trượt chân.
Tới nơi, Bác đi xem từng công sự, Bác ân cần hỏi thăm từng đồng chí và cho mỗi người một điếu thuốc lá.
Nhận thuốc Bác cho, nhiều đồng chí không nén nổi xúc động, nước mắt rưng rưng, chỉ nói được mỗi câu: "Cháu xin Bác".
Tình thương yêu của Bác đối với chúng tôi như trời cao biển rộng. Tình thương yêu ấy mãi mãi là nguồn động viên, cổ vũ chúng tôi. Chúng tôi nguyện quyết tâm thực hiện bằng được những lời Bác đã dạy bảo.
NHỚ LẦN ĐƯỢC VÀO CHÚC TẾT BÁC
Vào dịp Tết năm 1962, đúng vào buổi chiều 30 Tết, chúng tôi đang tấp nập chuẩn bị đón mừng Xuân mới, bỗng được tin: Sáng mai mùng một Tết đơn vị được cử một số cán bộ, chiến sĩ vào chúc Tết Bác. Tin đến thật bất ngờ và truyền đi rất nhanh. Tiếng hỏi nhau, tiếng trả lời, tiếng hoan hô thật là náo nhiệt. Nhiều đồng chí vui sướng quá, miệng hoan hô, tay chân thì nhảy múa trông rất ngộ nghĩnh.
Với những bộ quân phục mới nhất, tất cả chúng tôi đã tập trung ở địa điểm quy định. Sáu giờ sáng chúng tôi đã đến trước cửa một ngôi nhà nhỏ trong Phủ Chủ tịch. Lúc ấy các đồng chí trong cơ quan, các đơn vị bạn cũng có mặt để vào chúc Tết Bác.
Từ phía ngoài nhà sàn nhỏ, chúng tôi đã nhìn thấy Bác, vẫn bộ kaki bạc màu, đôi dép cao su quen thuộc với dáng đi nhanh nhẹn. Bác đang đi về phía chúng tôi. Mọi người sung sướng hồi hộp quá nên khi Bác tới gần ai cũng chỉ nói được mỗi câu: Bác, Bác, Bác... Phần vì quá xúc động, nên đồng chí phụ trách lúng túng thưa kịp hô đơn vị để chào Bác, thì Bác đã thân mật hỏi ngay:
- Các chú vào chúc Tết Bác phải không?
Nghe giọng nói ấm áp của Bác, thấy Bác tươi cười hiền hậu, chúng tôi cảm thấy bớt phần hồi hộp, chúng tôi trả lời khá đều:
- Thưa Bác vâng ạ!
Đồng chí K. thay mặt anh em đứng ra chúc Tết Bác. Vừa nghe xong, Bác hỏi:
- Còn gì nữa không?
Chúng tôi lúng túng nhìn nhau chưa biết nói thế nào, may sao đồng chí H. đứng ở hàng đầu đã mạnh dạn thưa:
- Thưa Bác, Bác còn cho chúng cháu ăn Tết nữa ạ!
Bác cười, chỉ tay về phía đồng chí H. nói:
- Chú kia nói đúng.
Tiếng vỗ tay lại vang lên. Tiếp đó Bác đến thăm hỏi từng người về tình hình sức khỏe, tình hình gia đình, việc tổ chức ăn Tết ở đơn vị có vui không. Bác sắp đến chỗ tôi, tôi vừa vui sướng vừa hồi hộp, tim đập mạnh quá khiến tôi cứ run rẩy người lên. Vui vì được nhìn rõ Bác, được Bác sắp hỏi han nhưng lại lo khi Bác hỏi thì trả lời sao đây. Thế rồi Bác đã tới trước mặt tôi, tôi bỗng thấy mắt mình như nhòa khi nghe tiếng Bác.
- Chú có bộ quần áo đẹp thế.
Tôi lúng túng thật sự, chưa biết trả lời Bác ra sao, thì được Bác hỏi tiếp:
- Chú đi bộ đội từ bao giờ, sao chú nhiều huân chương thế?
Bác hỏi và tay chỉ vào ngực tôi, rồi Bác lại chỉ luôn vào ngực Bác, Bác nói:
- Bác chẳng có cái nào.
Tôi ấp úng đá lời:
- Dạ... dạ thưa Bác, đây là huân chương của Bác, Bác để dành cho chúng cháu ạ.
Bác cười và chỉ tay vào đồng chí bên cạnh hỏi tiếp:
- Chú có huân chương không?
- Thưa Bác có ạ!
Chúng tôi hết sức xúc động và sung sướng được sự chăm sóc động viên của Bác. Chúng tôi thầm nghĩ mình phải làm gì để thực sự xứng đáng với tình thương yêu của Bác.
Sau đó Bác căn dặn chúng tôi:
- Năm nay các cô các chú ăn Tết phải tổ chức thật tốt thật vui nhưng phải tiết kiệm, không nên tiêu những thứ chưa thật cần thiết. Nước ta còn nghèo, cần phải dành dụm để xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Bác còn dặn thêm:
- Sang năm mới các cô các chú phải chịu khó học tập tốt, công tác tốt để đạt được nhiều thành tích hơn nữa.
Sau đó Bác cho chúng tôi chụp ảnh chung với Bác. Chúng tôi ai cũng muốn được gần Bác hơn. Trong lúc đồng chí nhiếp anh đang chuẩn bị. Bác nhìn quanh một lượt, thấy tôi, Bác vẫy tay và bảo:
- Chú vào đây ngồi với Bác.
Tôi sung sướng và xúc động quá, vội vàng chạy lại bên Bác mà người cứ run lên, trống ngực đập thình thịch.
- Chú chuẩn bị xong chưa?
Bác hỏi đồng chí nhiếp ảnh.
- Thưa Bác xong rồi ạ.
- Khi nào chụp chú phải hai, ba để các chú ấy cười lên.
Chụp ảnh xong, chúng tôi được Bác cho phép vào ăn Tết với Bác. Trong căn phòng nhỏ xinh xắn, một dãy bàn trải khăn trắng muốt có các món ăn đã được bày sẵn. Thấy chúng tôi vẫn đứng chung quanh các dãy bàn, Bác đưa tay ra hiệu và nói:
- Các chú ngồi xuống.
Chờ chúng tôi ngồi đâu vào đấy, Bác đi quanh dãy bàn xem xét một lượt, rồi trở về chỗ ngồi, Bác âu yếm bảo chúng tôi:
- Các chú ăn đi!
Chúng tôi ngồi ăn, thỉnh thoáng lại liếc nhìn Bác. Trong bữa ăn Bác đi đến từng bàn và luôn giục chúng tôi:
- Các chú ăn bánh chưng của Bác xem có ngon không?
- Các chú là bộ đội sao ăn chậm thế?
Thấy chúng tôi ăn uống vui vẻ, Bác tỏ ý hài lòng. Bữa ăn sắp xong, thấy Bác đứng dậy, chúng tôi đều đặt đũa xuống và hướng nhìn Bác. Với giọng ấm áp đầy yêu thương. Bác nói:
- Hôm nay Bác cháu ta vui Tết nhưng đồng bào miền Nam ta còn phải chiến đấu, chịu dựng mọi gian khổ hy sinh...
Giọng Bác nghe trầm hẳn, Bác tiếp:
- Các chú, các cô ăn Tết với Bác hôm nay cơm thì được ăn no, nhưng thịt thì chưa đủ no.
Chúng tôi hiểu rằng Bác vui Tết với con cháu nhưng Người vẫn luôn nhớ đến đồng bào miền Nam. Lúc nào Bác cũng chỉ có một ý nguyện làm cho nước nhà thống nhất để toàn thể nhân dân ta ai cũng được no cơm và no thịt nữa.
Đồng chí K. thay mặt anh em xúc động nói:
- Năm mới chúng cháu kính chúc Bác mạnh khỏe và xin hứa với Bác quyết tâm thực hiện bằng được lời Bác dạy cùng nhân dân cả nước giải phóng miền Nam để đồng bào miền Nam sớm được đón Bác vào ăn Tết...
Đồng chí K. dứt lời, chúng tôi thấy Bác mỉm cười. Bác vỗ tay hoan hô, chúng tôi cùng vỗ tay theo. Có tiếng ai hô: Năm mới kính chúc Bác mạnh khỏe! Tất cả thúng tôi đồng thanh hô lại rõ từng tiếng một... Tiếng vỗ tay lại vang lên tưởng như không dứt.
Mọi người ra về, lòng đầy phấn khởi. Được vào chúc Tết Bác là một niềm vinh dự, một hạnh phúc lớn lao, là phần thưởng vô giá đối với mỗi chúng tôi.
TRƯỚC MỖI BUỔI CHIẾU PHIM
Chúng tôi đứng dậy đón Bác vào xem buổi chiếu phim. Trước giờ chiếu Bác thường điều khiển cuộc vui văn nghệ và hôm nay cũng vậy.
Bác đến các cháu nhỏ chạy ùa ra đón, ríu rít chào "Chào Bác ạ!". Bác cười vui vẻ và dắt tay các cháu vào chỗ ngồi, rồi Bác ra hiệu cho mọi người ngồi xuống và nói:
- Ta bắt đầu!
- Các cháu nhỏ xếp hàng theo hình răng lược giơ tay chào theo tư thế sẵn sàng và mở đầu cuộc vui bằng bài hát "... Mẹ đố bé đoán được máy bay Mỹ rơi...".
Bác chăm chú lắng nghe các cháu hát, Bác cười hiền hậu. Khi các cháu chắp tay trước ngực chào theo kiểu văn công. Bác đứng dậy đến nơi các cháu, ôm từng cháu vào lòng. Bác sung sướng thấy đàn cháu nhỏ của Bác ngoan và hát rất hay, Bác lần lượt chia kẹo cho các cháu, Bác nói:
- Bây giờ cháu nào xung phong hát một mình nào?
Tất cả đều giơ tay nói:
- Cháu xin hát ạ, cháu xin hát ạ!
Các cháu nhỏ hát xong, cuộc vui vẫn tiếp tục. Bác chỉ định chúng tôi hát, chúng tôi hát bài "Bão nổi lên rồi".
Bác cười và hỏi:
- Bài mà các đồng chí vừa hát đáng được thưởng bao nhiêu kẹo?
Chúng tôi cũng sung sướng như những cháu nhỏ nhìn nhau chưa biết trả lời sao thì Bác đến bên chúng tôi và hỏi đồng chí chỉ huy:
- Chú đã có vợ chưa?
- Thưa Bác, cháu có vợ rồi ạ!
Bác hỏi tiếp:
- Thế chú mấy cháu rồi?
- Thưa Bác, có hai cháu ạ.
- Các cháu đông mà kẹo của Bác thì ít, Bác gửi chú này đem về cho hai đứa nhỏ ở nhà. Các chú có tán thành không?
- Thưa Bác, tán thành ạ!
Chúng tôi sung sướng đáp lại như chính mình được Bác cho quà.
Tiết mục vui văn nghệ trước buổi chiếu phim kết thúc. Chúng tôi ngồi quây quần bên Bác xem phim. Những buổi xem phim như thế bao giờ cũng để lại cho chúng tôi một niềm vui sâu sắc.
Bác hồng hào, tiếng nói ấm áp, bước đi nhanh và mạnh. Bác Hồ của chúng ta rất khỏe. Chúng tôi nguyện làm hết sức mình để Bác mãi mãi mạnh khỏe lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN BÁC
Hàng năm nhân ngày sinh của Bác, cán bộ chiến sĩ đoàn Tân Trào lại tập hợp đông đủ đến thăm phòng truyền thống của đơn vị. Nơi đây đã ghi lại một số hình ảnh hiện vật biểu hiện sự quan tâm dạy dỗ chăm sóc của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ trong toàn đoàn.
Bước vào phòng đầu tiên chúng tôi đứng lặng hồi lâu trước bức tượng Bác bằng thạch cao trắng nổi trên nền cờ đỏ. Trong lòng chúng tôi trào lên một niềm thương nhớ vô hạn. Chúng tôi đặt tay lên và đứng nghiêm trang tưởng niệm Bác.
Phía bức tượng Bác là một lẵng hoa được đặt trong tủ kính trong suốt mang dòng chữ "Lẵng hoa Bác Hồ tặng đơn vị nhân dịp 2.9.1968" với những cánh hoa lay ơn trắng muốt. Còn đây là những tấm huy hiệu của Bác mà hàng năm Người đã giành phần thưởng cao quý này cho các đơn vị để tặng những cán bộ chiến sĩ có nhiều thành tích xuất sắc nhất. Năm 1965, Bác đến thăm hội nghị mừng công của toàn đoàn, Bác đã tặng huy hiệu của Người cho 5 cán bộ chiến sĩ. Tận tay Bác đã trao huy hiệu cho từng đồng chí trong số đó có đồng chí Trần Văn Nhã, nay là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Bác không những luôn chăm lo đông viên giáo dục chúng tôi khi lập thành tích mà Người còn quan tâm chăm sóc đời sống vật chấn tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ. Những con cá rô phi béo, mập mạp này là giống cá của Bác cho đơn vị nuôi. Bác cho chúng tôi cả từng hạt giống cây rau để trồng. Nhìn những hạt rau để trong phòng truyền thống, chúng tôi lại càng nhớ đến những lúc tự tay Bác trồng rau, tưới nước trong vườn. Bác dạy từ cách trồng rau, bắp cơ, trồng thưa cây mới to được, cách tỉa từng quả đu đủ để quả chóng to, mau lớn. Có lần được đọc tờ báo khoa học, Bác lấy bút chì đỏ gạch những đoạn nêu tên kinh nghiệm trồng rồi gửi cho đơn vị.
Còn những quả lê, quả táo này khi đến thăm địa phương, Bác được nhân dân kính biếu, Người cũng mang về làm quà cho các đồng chí phục vụ bảo vệ Bác.
Quả vải này Bác đã dành cho đồng chí Nhuận. Đồng chí Nhuận đã giữ gìn trân trọng, coi đó là kỷ vật quý giá nhất trong đời mình. Khi chuyển công tác, đồng chí gửi lại làm lưu niệm trong phòng truyền thống của đơn vị.
Trong dịp Tết Kỷ Dậu, đội văn nghệ của đơn vị được vinh dự vào phục vụ Bác. Bác khen ngợi và căn dặn đội phải cố gắng luyện tập và công tác không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt tốt hơn nữa. Sau cùng Bác đã dành thưởng cho mỗi đồng chí một quả cam và một lá thư chúc Tết. Quả cam này là do tự tay Bác trồng và chăm bón. Giống cam quý của Bác được anh em giữ gìn mang về quê hương ươm trong thành những vườn cam tươi tốt. Hạt giống cam cũng được lưu lại đặt trong phòng truyền thống của đoàn.
Chúng tôi không khỏi bùi ngùi thương nhớ Bác khi nhìn lại những hình ảnh và hiện vật kỷ niệm cùng Bác đi chiến dịch trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Những cái bếp, cái nồi nấu cơm và cái hộp sắt chúng tôi thường dùng để thức ăn cho Bác, được Bác đặt tên là "muối Việt Minh", trong hộp thường có 1/3 thịt, 1/3 muối 1/3 ớt mà tổ đồng chí L. đã mang theo để phục vụ Bác. Hình ảnh những bữa cơm trên đường đi. Bác cháu ngồi quây quần bên nhau trên những tầng đá nhẵn hay lùm cây ven suối, trải tàu lá chuối rừng, giở cơm ăn, lại hiện lên trong tâm trí tôi. Trong bữa ăn, Bác thường nhường cơm và thức ăn cho chúng tôi.
Còn tấm ảnh này Bác đang cùng tổ đồng chí A. ngồi trên chiếc tầng bằng nứa vượt sông trên đường đi chiến dịch. Nhớ lại có lần Bác cùng đồng chí L. ngồi thuyền qua sông, Bác bảo đồng chí ngồi gần bên Bác cho khỏi ngã. Đồng chí L. cảm động quá không nói được câu nào.
Cây cột gỗ này chúng tôi đã kiếm để làm hầm bảo vệ Bác. Chiếc cầu thang còn in dấu chân Bác lên xuống ngày nào trên chiếc nhà sàn ở núi rừng Việt Bắc, còn những cây tổ quạ này, trên đường đi chúng tôi tìm kiếm trong những hang đá, khe suối mang theo ngụy trang cho mái lán của Bác. Cây tổ quạ đó Bác chỉ cho chúng tôi làm, nhờ sống vào cây khác nên nó luôn xanh tốt giúp cho việc ngụy trang thật kín đáo.
Ai từng chịu đựng cái rét như cắt của núi rừng Việt Bắc mới có thể hiểu hết nỗi băn khoăn lo lắng của chúng tôi. Là thanh niên chúng tôi cũng rét không ngủ được, thế mà Bác đã già lại làm việc tới khuya. Đứng gác bên lán nhà Bác nghe gió lùa lạnh thấu xương. nhìn lại nhà vẫn thấy ánh đèn Bác làm việc, chúng tôi thương Bác quá. Đây là những hòn than của chúng tôi đã từng đốt để Bác sưởi. Bác không cho chúng tôi làm thế. Thương Bác già, trời lại rét chúng tôi không thể yên tâm nên có những đêm đợi Bác đi ngủ chúng tôi mới đốt lửa sưởi ấm cho Bác. Thật cảm động biết bao, Bác thấy chúng tôi đứng gác ngoài trời rét, Bác đã lo cho chúng tôi từng chiếc áo ấm trong khi đó Bác vẫn dùng chiếc áo bông cũ.
Mặc dù hàng ngày Bác bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời giờ tăng gia sản xuất và tập luyện thể dục thể thao. Đây là hình ảnh Bác đánh bóng chuyền với chúng tôi, Bác mặc một chiếc áo lót, quần cụt, Người chuyền bóng nhanh nhẹn, khỏe như một thanh niên... Bác còn cùng chúng tôi tập bơi và câu cá ngoài suối nữa.
Đây là hình ảnh Bác nói chuyện thời sự với cán bộ chiến sĩ cảnh vệ. Nhìn ảnh lại nhớ lần chúng tôi sinh hoạt thì Bác xuống thăm, nhìn thấy tấm bản đồ Đông Phương, Bác hỏi đồng chí P, một đồng chí trẻ nhất của quân đội:
- Cháu có biết đất nước ta từ đâu đến đâu không?
Đồng chí P. không biết nên lúng túng chỉ lên tận nước Lào... Bữa đó Bác chỉ cho chúng tôi thấy rõ vị trí và hình dáng nước ta trên bản đồ Đông Phương. Bác giảng cho chúng tôi sự giàu có của đất nước Việt Nam truyền thống anh hùng của nhân dân ta chống ngoại xâm từ xưa tới nay và tội ác tày trời của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Giảng xong dừng lại một chút, Bác hỏi:
- Các chú ở gần Bác mà để các chú chưa hiểu thì Bác cũng có khuyết điểm.
Sau cùng Bác còn dặn chúng tôi phải chịu khó học tập văn hóa để nâng cao trình độ nhận thức.
Hôm đó chúng tôi đều cảm động, có đồng chí đã khóc, hối hận vì chưa chịu khó học tập, tu dưỡng để Bác bận lòng.
Ngày nay Bác đã đi xa, nhưng những hình ảnh và hiện vật vô giá trong phòng truyền thống như nhắc nhở Bác vẫn bên cạnh chúng tôi. Mỗi bước đi, mỗi bước trưởng thành của đoàn, của mỗi người đều mang theo hình ảnh vĩ đại và công ơn trời biển cửa Bác Hồ kính yêu.
BÁC VẪN SINH HỌAT VỚI CHÚNG TÔI
Đồng chí Đĩnh
Cán bộ đội bảo vệ Bác Hồ
Năm nào cũng vậy, cứ đến cuối năm Bác Hồ đều dành thời gian để họp với tổ cảnh vệ một lần. Trong các cuộc họp đó không khí rất trang nghiêm, nhưng ai cũng rất vui, trước giờ họp anh em trong tổ đều tập trung đông đủ.
Đúng giờ Bác đến. Chúng tôi đứng dậy chào Bác. Bác ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống rồi nói "Ta bắt đầu".
Tôi thay mặt anh em báo cáo tóm tắt với Bác về tình hình các mặt công tác của tổ trong một năm.
Nghe xong, Bác hỏi:
- Thế tổ ta năm nay tiến bộ hơn năm ngoái ở những mặt nào?
Tôi báo cáo thêm với Bác những điểm tiến bộ hơn và nêu những điểm còn yếu để đề ra phương hướng khắc phục. Bác khẽ gật đầu rồi nói: "Điểm kém ngày càng ít đi như vậy là tốt", rồi Bác bảo đồng chí phục vụ về nhà đưa sang một ít kẹo và một lẵng hoa hồng. Bác đứng dậy rút từng bông hồng và lần lượt tặng chúng tôi mỗi người một bông và nói: "Bác tặng mỗi chú một bông hồng". Chúng tôi sung sướng nhận hoa Bác tặng rồi cài lên áo, ngồi quây quần bên Bác liên hoan. Vừa liên hoan Bác vừa hỏi thăm tình hình gia đình từng đồng chí, rồi Bác căn dặn: "Các chú phải tranh thủ học tập chính trị nghiệp vụ, văn hóa, mỗi người học một năm phải lên một lớp. Bắn súng và nghiệp vụ phải giỏi". Rồi Bác nói:
- Các chú làm được không?
- Thưa Bác chúng cháu làm được ạ.
Trước lúc ra về, Bác tặng thêm chúng tôi một gói kẹo. Đồng chí nào có con nhỏ, Bác đưa hai gói rồi bảo: "Gói này phần chú, còn gói này Bác gửi cho các cháu ở nhà".
Chúng tôi nhìn nhau cười sung sướng tiễn Bác về. Nay Bác Hồ kính yêu của chúng ta không còn nữa, nhưng cuộc họp hàng năm của tổ cảnh vệ vẫn còn. Và khi đến những ngày cuối năm, chúng tôi quyết báo cáo nhiều thành tích của tổ mình với Bác như hồi Bác còn sống, vì chúng tôi hứa quyết tâm làm đúng di chúc thiêng liêng của Bác.
Nxb. Công an nhân dân
Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu