I- HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA ĐẠI HỘI
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) đã gần 10 năm. Trong thời gian ấy, trên thế giới và trong nước ta đã có nhiều biến đổi quan trọng. Nét nổi bật của tình hình thế giới trong thời kỳ lịch sử này là:
Hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh vượt bậc và đã trở thành lực lượng mạnh hơn lực lượng của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Đó là sự phát triển toàn diện và không ngừng của các nước xã hội chủ nghĩa về kinh tế, chính trị, quân sự và khoa học - kỹ thuật... Liên Xô, trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển và củng cố về mọi mặt. Liên Xô bắt tay vào thực hiện kế hoạch 7 năm 1959 - 1965. Ưu thế quân sự của Liên Xô đã làm thay đổi so sánh lực lượng giữa Mỹ và Liên Xô.
Các nước xã hội chủ nghĩa đều hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh tế đặt ra, các nước Trung Đông Âu đã trở thành những nước công nông nghiệp. Các nước xã hội chủ nghĩa đã đạt hơn 1/3 tổng sản lượng công nghiệp và gần 1/2 tổng sản lượng nông nghiệp của thế giới. Tốc độ phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa tăng trung bình từ 8 đến 11% so với những năm trước, đặc biệt là tốc độ phát triển công nghiệp tăng 4 lần so với các nước đế quốc. Trong các nước xã hội chủ nghĩa, những tiến bộ mới về khoa học - kỹ thuật thể hiện rõ, nền kinh tế quốc dân phát triển một cách toàn diện. Một số nước trước đây còn lạc hậu về công nghiệp, nay đã có nhiều trung tâm công nghiệp mới hình thành. Ở nhiều nước, quan hệ sản xuất mới được củng cố và hoàn thiện dần. Thành phần kinh tế tập thể được nâng cao về chất lượng. Sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố thêm một bước. Đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân tiếp tục được nâng cao. Sự phân công và hợp tác quốc tế giữa các nước với nhau phát triển thêm.
Cuộc đấu tranh kiên quyết và bền bỉ của hệ thống xã hội chủ nghĩa chống âm mưu xâm lược và gây chiến của chủ nghĩa đế quốc, thái độ ủng hộ kiên quyết phong trào đấu tranh của nhân dân các nước giành độc lập và dân chủ, mối quan hệ hữu nghị, hợp tác và tương trợ trong hệ thống và các nước mới giành được độc lập, những thành tích trong xây dựng chủ nghĩa xã hội v.v., tất cả những điều đó tăng thêm ảnh hưởng và uy tín về chính trị và tinh thần của hệ thống xã hội chủ nghĩa trong nhân dân và các nước trên thế giới. Mặc dầu trong thời gian này, một số nước xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có sự bất đồng, có làm hạn chế một phần, nhưng không thể xóa bỏ được tác dụng khách quan và ảnh hưởng to lớn của hệ thống xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển của tình hình thế giới. Tiêu biểu là hai cuộc hội nghị quốc tế của các Đảng Cộng sản và công nhân năm 1957 và năm 1960 đã thể hiện rõ sự hợp tác anh em giữa các nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự lớn mạnh của phong trào cộng sản quốc tế.
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ , nhất là ở châu Á và châu Phi. Cho đến thời gian này đã có trên 1.500 triệu người thoát khỏi ách thực dân, 40 nước thuộc địa và nửa thuộc địa đã giành được độc lập với mức độ khác nhau. Hệ thống thuộc địa -hậu phương của chủ nghĩa đế quốc đang tan rã. Ở châu Á, hệ thống thuộc địa hầu như hoàn toàn sụp đổ. Ở châu Phi, phong trào độc lập dân tộc phát triển mạnh. Cuộc đấu tranh giành chính quyền của các nước Mỹ Latinh cũng đang mở rộng. Chủ nghĩa đế quốc đã dùng đủ mọi cách để ngăn chặn sự phát triển của phong trào này, nhưng đều thất bại thảm hại. Khuynh hướng chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân và hòa bình trung lập đang phát triển ở vùng này.
Vào cuối năm 1959 đầu năm 1960, cách mạng ở các nước Lào, Ănggôla, Goatêmala thu được nhiều thắng lợi, đặc biệt là cách mạng Cuba thành công và tuyên bố tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội.
Bước tiến mới của phong trào giải phóng dân tộc trong thời gian này thể hiện ở chỗ, nhân dân các nước ngày càng thấy rõ âm mưu của chủ nghĩa đế quốc; đồng thời mặt trận liên minh chống đế quốc được củng cố và mở rộng thêm trong phạm vi từng nước cũng như giữa các nước bị áp bức với nhau. Khối liên minh chống đế quốc đã được hình thành ở cả châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc có tác dụng tích cực đối với sự phát triển của tình hình thế giới.
Phong trào bảo vệ hòa bình đang phát triển theo hướng tích cực. Xu hướng đòi giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa các nước bằng phương pháp hòa bình có tác dụng ngăn chặn âm mưu gây chiến của bọn đế quốc. Một khu vực hòa bình rộng lớn bao gồm các nước xã hội chủ nghĩa và các nước Á, Phi đã hình thành và đang phát triển, làm cho mặt trận bảo vệ hòa bình trên thế giới được củng cố. Đây cũng là một điều kiện quan trọng làm cho lực lượng của hệ thống xã hội chủ nghĩa trội hơn hẳn lực lượng của hệ thống đế quốc. Phong trào hòa bình ngày càng kết hợp chặt chẽ với phong trào giải phóng dân tộc.
Lực lượng dân chủ và tiến bộ ở các nước tư bản, mà nòng cốt là phong trào công nhân, cũng phát triển rộng rãi. Những cuộc đấu tranh sôi nổi giữa lao động và tư bản, giữa lực lượng tiến bộ và lực lượng phản động đã diễn ra với quy mô lớn có trong hầu hết các nước tư bản đế quốc với hàng trăm triệu lượt người tham gia bãi công.
Đặc điểm của phong trào là diễn ra ở khắp các lục địa, quy mô ngày càng rộng lớn, thời gian ngày càng kéo dài. Nhiều cuộc bãi công khổng lồ làm tê liệt nền kinh tế hoặc một số ngành đã xảy ra ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa. Hình thức đấu tranh cũng phong phú hơn, kết hợp chặt chẽ khẩu hiệu kinh tế với khẩu hiệu chính trị, đặc biệt là tính chất chính trị tăng lên rõ rệt, lôi cuốn nhiều thành phần xã hội tham gia. Phong trào này đã giáng những đòn mạnh mẽ vào chính sách bóc lột và gây chiến của bọn đế quốc.
Lực lượng của chủ nghĩa đế quốc suy yếu , biểu hiện trước hết là sự tan rã của hệ thống thuộc địa, sau đó là ở dấu hiệu suy thoái nền kinh tế và những mâu thuẫn trong nội bộ các nước đế quốc. Trong các nước đế quốc, phong trào đấu tranh lên cao, nhất là phong trào chống chính sách gây chiến của đế quốc v.v..
Trước sự suy yếu của mình, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, tìm cách tăng cường chạy đua vũ trang, thành lập các khối quân sự xâm lược, hòng duy trì những vị trí còn lại và giành lại những vị trí đã mất. Ở Đông Dương, đế quốc Mỹ can thiệp vào Việt Nam, trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đưa vũ khí và nhân viên quân sự vào miền Nam Việt Nam và Lào, hòng biến các nước Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng.
Trước thế tiến công mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới, phạm vi thống trị của chủ nghĩa đế quốc bị đẩy lùi. Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược quân sự "Trả đũa ồ ạt" bằng chiến lược "Phản ứng linh hoạt" nhằm đối phó với phong trào giải phóng dân tộc, ngăn đe phong trào cách mạng thế giới và để tiến hành xâm lược các nước nhỏ yếu. Đế quốc Mỹ trắng trợn can thiệp vũ trang vào Cuba, bắt đầu tiến hành "Chiến tranh đặc biệt" xâm lược miền Nam Việt Nam, tích cực can thiệp vào Lào, gây căng thẳng trong vấn đề Tây Béclin. Điểm đáng chú ý trong thời kỳ này là Mỹ đã sử dụng một chính sách thâm độc và xảo quyệt, kết hợp bạo lực với mị dân, kết hợp hành động gây chiến tranh với luận điệu hòa bình, kết hợp đánh phá với đàm phán, kết hợp tiến công với lôi kéo các lực lượng trung gian v.v..
Tình hình thế giới trên đây đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát trong Diễn văn khai mạc tại Đại hội lần thứ III của Đảng: "Ngày nay, chủ nghĩa xã hội đã thành một hệ thống thế giới hùng mạnh, vững chắc như lũy thép thành đồng... Rõ ràng là lực lượng hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã mạnh hơn hẳn phe đế quốc" 1 .
* *
*
Nét nổi bật của tình hình trong nước thời kỳ lịch sử này là:
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và tiếp đó là Hiệp định Giơnevơ được ký kết đã buộc thực dân Pháp và can thiệp Mỹ phải công nhận trên pháp lý chủ quyền độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta. Thắng lợi đó mở ra cục diện mới cho cách mạng Việt Nam: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, trở thành hậu phương của cách mạng cả nước, là tiền đề vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là bước nhảy vọt về chất của cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó tạo ra những nhân tố cơ bản đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên. Tuy nhiên, như Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7-1954 và Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954 đã nhận định: Tình hình diễn ra phức tạp do âm mưu và hành động xâm lược của đế quốc Mỹ; đế quốc Mỹ đã trở thành kẻ thù chủ yếu và trực tiếp của nhân dân Việt Nam.
Thật vậy, trong khi Pháp sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Đông Dương, một mặt, Mỹ ra sức giúp Pháp, mặt khác, thông qua viện trợ thực hiện âm mưu lâu dài là thay thế Pháp ở Đông Dương. Hiệp định Giơnevơ ký kết, Mỹ nhảy vào miền Nam hất cẳng Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, đồng thời, lấy miền Nam làm bàn đạp để tiến công miền Bắc, hòng đẩy lùi và đè bẹp chủ nghĩa xã hội ở khu vực này. Để thực hiện mưu đồ đó, Mỹ dựng lên ở miền Nam chính quyền tay sai phản động Ngô Đình Diệm. Bằng các thủ đoạn chính trị, kinh tế, quân sự, chúng thực hiện cuộc chiến tranh "đơn phương" nhằm tiến công tiêu diệt các lực lượng yêu nước và cách mạng ở miền Nam, từng bước biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Cách mạng Việt Nam phải đương đầu với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ, có tiềm lực kinh tế và quốc phòng lớn mạnh vào loại nhất thế giới.
Như vậy, tình hình nước ta từ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 là: đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, có hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành và bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Về cơ bản, xã hội miền Nam vẫn là thuộc địa, nửa phong kiến. Tính chất, nhiệm vụ cách mạng miền Nam về cơ bản chưa thay đổi, phải tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đổ đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, tiến tới hòa bình, thống nhất đất nước.
Ở miền Nam, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đàn áp dã man cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta. Trong thời gian này, Đảng ta đã kịp thời chỉ đạo chuyển hướng đấu tranh của cách mạng miền Nam cho phù hợp. Trong những năm 1954 - 1956, Đảng đã huy động được lực lượng quần chúng đông đảo đấu tranh sôi nổi dưới khẩu hiệu hòa bình, độc lập, thống nhất, đòi thi hành Hiệp định đình chiến, đòi dân sinh, dân chủ; đồng thời lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống bắt phu, bắt lính, chống cướp lại ruộng đất, đặc biệt là phong trào chống "tố cộng", "diệt cộng", chống dồn dân vào các "khu trù mật", "dinh điền", "ấp chiến lược"... Phát động được phong trào cách mạng rộng lớn, tiến công đánh bại địch về chính trị là thành quả lớn của Đảng và nhân dân miền Nam thời kỳ này.
Sau thất bại nặng nề trước phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ta ở miền Nam, Mỹ - Diệm chuyển sang thực hiện các chính sách phátxít hóa, tiến hành các chiến dịch "tố cộng", "diệt cộng" khốc liệt hơn nhằm tiêu diệt những người cộng sản, dập tắt phong trào cách mạng miền Nam. Sự đàn áp khủng bố của địch trong những năm 1958 - 1959 đã đạt tới tột đỉnh của sự tàn ác, dã man với các cuộc thảm sát đẫm máu ở Phú Lợi, Ngân Sơn, Chợ Được... Tiếp đó, chúng thi hành Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam giết hại đảng viên, cán bộ, những người kháng chiến cũ và đồng bào yêu nước. Chính sách phátxít hóa tàn bạo của chúng đã thổi bùng ngọn lửa căm thù của nhân dân ta ở miền Nam. Phong trào đấu tranh chống chính sách khủng bố tàn bạo của Mỹ - Diệm diễn ra ác liệt dưới hình thức công khai, hợp pháp nhằm lợi dụng khẩu hiệu "độc lập, dân chủ" giả hiệu của chúng nêu ra. Các hình thức đấu tranh vũ trang tuyên truyền, tự vệ, trừ gian, diệt ác đã xuất hiện và phát triển dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của các đảng bộ. Một số căn cứ cách mạng và đơn vị vũ trang tập trung được thành lập. Năm 1958, Bộ Tư lệnh miền Đông Nam Bộ ra đời, tiếp đó là Khu V. Các lực lượng vũ trang đã tiến hành các cuộc chiến đấu chống các cuộc càn quét của địch, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Đáng chú ý là tháng 4-1958, nhân dân Bác Ái (Ninh Thuận) đã nổi dậy, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang phá tan khu tập trung của địch. Đây là cuộc nổi dậy có tính chất khởi nghĩa từng phần đầu tiên ở miền Nam. Mặc dù kẻ thù đã chuyển sang chính sách phátxít hóa vô cùng tàn bạo, gây cho cách mạng miền Nam những khó khăn và tổn thất lớn, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, với ý chí kiên cường chiến đấu, cách mạng miền Nam đã vượt qua bước thử thách nghiêm trọng, cơ sở cách mạng được giữ vững, lực lượng cách mạng được củng cố và phát triển.
Vào những năm 1959 - 1960, sự đàn áp, khủng bố tàn bạo của Mỹ - Diệm đã gây nên lòng căm thù sôi sục trên khắp đất nước Việt Nam, tình thế bùng nổ cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam đã chín muồi. Nhân dân miền Nam chỉ chờ dịp là vùng lên sống mái với kẻ thù. N ghị quyết Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đáp ứng đúng nguyện vọng đó. Đảng đã lãnh đạo nhân dân miền Nam thực hiện sáng tạo phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, từ thấp đến cao, dẫn đến phong trào "Đồng khởi" trong những năm cuối 1959 đầu 1960. Tiêu biểu là ở Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Yên và Khánh Hòa... Đặc biệt là ở Bến Tre, Tỉnh uỷ phát động phong trào "toàn dân đồng khởi" nhằm phá ách kìm kẹp của địch, xây dựng chính quyền cách mạng theo phương châm dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang. Tại huyện Mỏ Cày, nhân dân và tự vệ đã nổi dậy tiêu diệt 9 đồn bốt, bức rút 20 đồn địch, đập tan bộ máy cai trị của địch, giải phóng 20 xã. Chỉ trong một tuần, phong trào phát triển khắp toàn tỉnh. Thắng lợi của Bến Tre cổ vũ phong trào toàn miền. Tại miền Đông Nam Bộ, lực lượng vũ trang tiến công địch ở Tua Hai, bắt sống 500 tên địch, thu hơn 1.000 súng các loại. Phát huy chiến thắng Tua Hai, nhân dân Tây Ninh nổi dậy giải phóng 2/3 số xã trong tỉnh. Nhân dân tỉnh Long An, Thủ Dầu Một v.v. cũng vùng lên lật đổ chính quyền địch ở cấp cơ sở.
Từ giữa năm 1960, phong trào "Đồng khởi" phát triển như bão táp khắp miền Nam. Trong bão táp cách mạng, đạo quân chính trị của quần chúng được củng cố vững chắc. "Đồng khởi" đã chấm dứt thời kỳ tạm thời ổn định của chế độ Mỹ - Diệm, giáng một đòn bất ngờ vào "Chiến lược Aixenhao", làm lộ mặt yếu cơ bản của địch về chính trị, tinh thần, báo hiệu sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, đồng thời chỉ rõ mọi hành động khủng bố, đàn áp, mọi thủ đoạn xảo quyệt mị dân của địch đều không khuất phục và lừa bịp được nhân dân ta.
Tình hình miền Nam nêu trên, được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: "đến nay đã sáu năm, mà nước ta vẫn chưa được thống nhất như Hiệp định Giơnevơ đã quy định, Chính phủ và nhân dân ta trước sau vẫn thi hành nghiêm chỉnh hiệp định đã ký kết. Song Mỹ - Diệm thì cố tình chia cắt nước ta, trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, cho nên miền Nam nước ta vẫn còn phải sống đau khổ dưới ách thống trị tàn bạo của chúng. Vì vậy, nhân dân ta đã không ngừng đấu tranh để hòa bình thống nhất đất nước , giải phóng miền Nam ra khỏi cảnh lửa bỏng, nước sôi. Cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào ta ở miền Nam đang tiếp tục sâu rộng và mạnh mẽ. Miền Nam rất xứng đáng với danh hiệu vẻ vang là "Thành đồng Tổ quốc" 2 .
Ở miền Bắc , từ sau ngày được giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân hăng hái ra sức phấn đấu thực hiện những nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Đó là điều kiện chính trị vô cùng thuận lợi để bước vào thời kỳ mới. Từ tháng 7-1954, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường phát triển tất yếu khách quan của xã hội miền Bắc và là tư tưởng chỉ đạo nhất quán của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Miền Bắc khi bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với những đặc điểm.
- Nền kinh tế của miền Bắc là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chủ yếu là sản xuất nhỏ, cá thể. Cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản hết sức kém cỏi và non yếu. Công nghiệp mới phôi thai. Nông nghiệp và thủ công nghiệp phân tán, lạc hậu chiếm phần lớn trong nền kinh tế quốc dân. Trình độ văn hóa của nhân dân còn thấp. Nền kinh tế bị tàn phá nặng nề trong những năm chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: " Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa" 3 .
- Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa được tiến hành trong hoàn cảnh đất nước còn tạm bị chia cắt làm hai miền, đế quốc Mỹ biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới của chúng và mở rộng chiến tranh trên cả hai miền Nam - Bắc. Do đó, đòi hỏi miền Bắc phải thật sự vững mạnh về mọi mặt, trở thành căn cứ địa vững chắc của cả nước, vừa chi viện có hiệu quả cho miền Nam đánh Mỹ, vừa bảo vệ vững chắc miền Bắc. Đặc điểm này chi phối thường xuyên quá trình xây dựng ở miền Bắc từ năm 1954 đến năm 1975.
- Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong khi chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thống thế giới, mối quan hệ hợp tác quốc tế trong hệ thống đã phát triển. Đây là nhân tố thuận lợi đối với cách mạng nước ta.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhà nước dân chủ nhân dân được củng cố vững chắc; là khối đại đoàn kết toàn dân; là sự ủng hộ, hợp tác quốc tế của các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng được tăng cường..., thì cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cũng gặp nhiều khó khăn, thử thách. Khó khăn chủ yếu là xuất phát điểm rất thấp về kinh tế, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội hầu như chưa có gì, lại phải thường xuyên đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và tay sai, lại trong bối cảnh có sự bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Xuất phát từ những đặc điểm nói trên, nhận rõ những khó khăn to lớn phải vượt qua, đánh giá đúng những thuận lợi cơ bản, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc thực hiện hoàn thành những nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng nhằm củng cố miền Bắc về mọi mặt.
Từ cuối tháng 7 đầu tháng 8-1954, ta tiếp quản nhanh gọn các thành thị và nông thôn miền Bắc . Ngày 10-10-1954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng. Ngày 1-1-1955, nhân dân ta đón Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về Thủ đô. Ngày 13-5-1955, toàn bộ khu vực Hải Phòng được giải phóng. Ngày 16-5-1955, tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng rút khỏi miền Bắc. Đây là thắng lợi to lớn của nhân dân ta.
Từ ngày 2-7-1954 đến tháng 5-1955, trong thời gian tương đối ngắn, Đảng và nhân dân ta đã tập trung giải quyết nhiệm vụ khó khăn là đấu tranh chống địch cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam . Thắng lợi của cuộc đấu tranh là một thành công lớn của ta, đã phá tan được âm mưu thâm độc của địch, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Để đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lãnh đạo nhân dân miền Bắc hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất , một trong những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ. Sau khi hòa bình lập lại, cuộc cải cách ruộng đất được mở rộng. Hàng vạn cán bộ được điều động vào công tác trọng tâm này. Đến mùa hè năm 1956, cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành ở vùng đồng bằng, vùng trung du Bắc Bộ và một số xã miền núi. Cải cách ruộng đất đã đưa đến một chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị trên miền Bắc. Chế độ phong kiến lạc hậu hàng nghìn năm đã vĩnh viễn bị xóa bỏ, nông dân trở thành người chủ nông thôn. Thắng lợi của công cuộc cải cách ruộng đất có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Bắc, tạo tiền đề cho việc cải tạo và phát triển nông thôn theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với việc hoàn thành cải cách ruộng đất, kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế (1955 - 1957) được tích cực thực hiện. Sau ba năm phấn đấu, sản xuất nông nghiệp được khôi phục về căn bản, một số mặt phát triển so với trước. Hệ thống đê điều được tu bổ, các công trình thủy lợi được sửa chữa và xây dựng mới, trâu bò, gia súc phát triển. Tổng sản lượng công, nông nghiệp đạt vượt mức trước chiến tranh (1939). Lương thực quy thóc đạt 3.948 nghìn tấn (năm 1939 là 2.407 nghìn tấn). Nhiều xí nghiệp được khắc phục và xây dựng mới. Giao thông vận tải được khôi phục, các tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy đều được khôi phục. Văn hóa, giáo dục cũng phát triển. Những thành tựu đạt được trong thời kỳ này có ý nghĩa quan trọng. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng sản xuất phát triển, từ đó để xác lập quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được trong thời kỳ khôi phục kinh tế, Đảng lãnh đạo nhân dân miền Bắc tiếp tục thực hiện kế hoạch ba năm cải tạo và phát triển kinh tế và văn hóa (1958 - 1960), trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là cải tạo và phát triển nông nghiệp, khâu chính của kế hoạch là hợp tác hóa nông nghiệp. Đó là yêu cầu khách quan, cơ bản và cấp bách của nền kinh tế quốc dân. Tuy nông dân đã được chia ruộng đất, nhưng bình quân ruộng đất quá thấp, lối sản xuất cá thể, lạc hậu, lại thiếu cả sức kéo, nông cụ, phân bón, tiền vốn..., cho nên nông dân không đủ sức để chống thiên tai, không có điều kiện cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động và phát triển nông nghiệp toàn diện. Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp được tiến hành theo nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ. Quá trình hợp tác hóa tiến hành theo ba bước: tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, hợp tác xã bậc cao. Nhân dân miền Bắc đã được giáo dục về con đường hợp tác hóa. Đến cuối năm 1960, công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp căn bản hoàn thành với trên 86% số hộ nông dân vào hợp tác xã và 76% diện tích canh tác.
Cùng với đẩy mạnh hợp tác hóa nông nghiệp, công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh cũng được tiến hành. Đến cuối năm 1960, công cuộc cải tạo đó đã hoàn thành với 2.097 cơ sở công thương nghiệp, trong đó có 889 xí nghiệp công nghiệp, 930 cơ sở thương nghiệp và 313 cơ sở vận tải... Nhà nước chú trọng xây dựng kinh tế quốc doanh với số vốn đầu tư mỗi năm một tăng. Trong ba năm đã xây dựng 130 công trình, một số cơ sở công nghiệp nặng bắt đầu hình thành. Năm 1960, công nghiệp quốc doanh đã chiếm 90% giá trị sản lượng công nghiệp. Tuy nhiên, sản xuất thủ công nghiệp trong công nghiệp còn lớn, cơ giới hóa và năng suất lao động còn thấp, năng lực quản lý còn yếu.
Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế có bước phát triển đáng tự hào. Năm học 1960 - 1961 có 1.900 nghìn học sinh phổ thông, 13.800 sinh viên đại học, 30.700 học sinh trung học chuyên nghiệp. Năm 1960, đã có 203 bệnh viện và bệnh xá, phong trào vệ sinh phòng bệnh, thể dục thể thao, bài trừ hủ tục cũ phát triển mạnh.
Trong ba năm cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, hầu hết nông dân miền Bắc đã đi vào con đường hợp tác hóa, toàn bộ công thương nghiệp tư bản tư doanh được cải tạo, hầu hết tiểu thủ công nghiệp được tổ chức lại. Thành phần kinh tế quốc doanh lớn mạnh, chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân. Quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng. Những kết quả đó làm chuyển biến sâu sắc xã hội miền Bắc, có ảnh hưởng tích cực đến cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, tạo điều kiện cho bước phát triển ở thời kỳ sau.
Tình hình miền Bắc từ sau hòa bình lập lại 1954 đến năm 1960 cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: "Từ khi hòa bình lập lại, ở miền Bắc hoàn toàn giải phóng đã chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa . Đó là một chuyển biến có ý nghĩa to lớn của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành thắng lợi, đã giải phóng đồng bào nông dân lao động, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng". Chúng ta đã thành công trong công cuộc khôi phục kinh tế và đang hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và văn hóa. Chúng ta đã giành được thắng lợi có tính chất quyết định trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa về nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh. Chúng ta đã thu được nhiều thành tích trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, trong sự nghiệp văn hóa giáo dục, và nâng cao một bước đời sống của nhân dân ta. Miền Bắc nước ta đang ngày càng củng cố thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà" 4 .
Sự chuyển biến của tình hình thế giới và sự phát triển cách mạng trong cả nước đặt ra cho Đảng ta những nhiệm vụ hết sức lớn lao: tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ra sức hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, giải phóng miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng được triệu tập nhằm vạch ra cho toàn Đảng và toàn dân ta đường lối đấu tranh để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đó.
II- CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH ĐẠI HỘI
Xây dựng Đảng Lao động Việt Nam vững mạnh, đáp ứng được những yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng nước ta trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà là suy nghĩ thường trực của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Những hoạt động phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về đối nội và đối ngoại trong những năm 1954 - 1960 đều nhằm mục đích đó. Những chuyến đi công tác thường xuyên, liên tục của Người đến các ngành, các địa phương, từ miền núi đến miền biển, từ nông thôn đến thành thị, đến những đơn vị điển hình hoặc đơn vị có nhiều khó khăn v.v. để nắm vững thực tiễn đã thể hiện tác phong chỉ đạo sát sao, kịp thời và mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân, giữa lãnh tụ với quần chúng. Những hoạt động quốc tế của Người: dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta đi thăm hữu nghị nhiều nước; đón tiếp nhiều nguyên thủ quốc gia đến nước ta là để thiết lập, củng cố và mở rộng quan hệ hữu nghị, đoàn kết của Đảng và Nhà nước ta với các nước và nhân dân tiến bộ trên thế giới nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Những tổng kết về công tác xây dựng Đảng, về tư cách người đảng viên, người cán bộ cách mạng được thể hiện sâu sắc trong hàng loạt bài viết và trong các huấn thị của Người trong thời kỳ này thể hiện rõ sự quan tâm đặc biệt của Người trong việc xây dựng những nhân tố cơ bản bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng nước ta.
Xác định đường lối chung cho cách mạng cả nước với hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề ra từ các Hội nghị lần thứ 14 (11-1958), lần thứ 15 (1-1959), lần thứ 16 (4-1959), lần thứ 17 (10-1959) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) và đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam phải được quyết định tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng. Quyết định của Đại hội sẽ hướng dẫn toàn Đảng và toàn dân ta bước vào giai đoạn mới.
Để chuẩn bị cho Đại hội, ngay từ cuối năm 1959, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng trong năm 1960. Ngày 14-10-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị lần thứ 17 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) bàn về vấn đề sửa đổi Hiến pháp, vấn đề tổ chức Đại hội Đảng. Ngày 15-10, Hội nghị bàn về tổ chức Đại hội Đảng các cấp, việc cử đại biểu dự Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Phát biểu tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý là phải tuyên truyền nội dung và nhiệm vụ của Đại hội Đảng sắp tới để đảng viên nắm được, thảo luận được, nhất là đối với miền Nam phải làm ngay mới kịp; đồng thời Người còn cho ý kiến cụ thể về tiêu chuẩn đại biểu dự khuyết của Đại hội. Buổi tối, Hội nghị tiếp tục thảo luận, Người phát biểu tán thành ý kiến của Trung ương là sẽ chỉ định một số uỷ viên Trung ương Đảng về các địa phương công tác và tham gia Đại hội với tư cách là đại biểu địa phương. Nói về thành phần đại biểu dự Đại hội toàn quốc của Đảng, Người cho rằng nên chú trọng đại biểu địa phương, không nhất thiết phải có cơ cấu cho đủ thành phần và nên có nhiều đại biểu công nhân, cán bộ khoa học - kỹ thuật nhằm tập trung trí tuệ cho Đảng. Về thời gian tổ chức Đại hội, Người đề nghị phải chuẩn bị khẩn trương để cuối tháng 4-1960 tổ chức xong Đại hội trù bị...
Ngày 29-10-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Bộ Chính trị bàn về chương trình tiến hành chuẩn bị Đại hội lần thứ III của Đảng. Phát biểu tại cuộc họp, Người nêu ý kiến phải tạo điều kiện cho chi bộ thảo luận, như Người phân tích: "Vì nếu không thảo luận thì không lợi về dân chủ, ta chỉ vì thời gian hạn chế mà không để chi bộ thảo luận thì ý kiến ở dưới không góp cho đề án, không lợi..." 5 .
Ngày 15-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng (khóa II) bàn về chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III. Tại phiên họp ngày 21-1 của Hội nghị, Người nêu rõ: Cương lĩnh của Đảng nên viết ngắn gọn, tôn chỉ, mục đích nên dùng những từ ngữ đã quen thuộc; về mặt tổ chức, Đảng phải gọn, cốt làm được việc, nên bỏ chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Đảng, giảm bớt các bộ... Cuối cùng, Người đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công tác Đảng ở các chi bộ cơ sở và Người nhắc nhở phải coi chi bộ là tổ chức quyết định tới thành công hay thất bại của Đảng 6 .
Ngày 8-2-1960, Người dự cuộc họp Bộ Chính trị bàn về một số vấn đề tổ chức cán bộ của Đảng trong Đại hội lần thứ III của Đảng. Ngày 25-2-1960, Người dự Hội nghị Trung ương Đảng thảo luận về văn kiện của Đại hội lần thứ III của Đảng. Tại Hội nghị, Người phát biểu bổ sung ý kiến cho từng chương, mục của văn kiện sẽ trình Đại hội và nêu chi tiết về các vấn đề như chỉ tiêu kế hoạch, khoa học - kỹ thuật, thủy lợi, văn hóa, giáo dục v.v.. Kết thúc lời phát biểu, Người chỉ rõ: "Các văn kiện phải toát lên được nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là tất cả đều phục vụ sản xuất, học tập và đấu tranh thống nhất nước nhà" 7 .
Ngày 3-3-1960, buổi sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp Bộ Chính trị thông qua Dự thảo Điều lệ Đảng, buổi chiều, bàn thêm về việc tổ chức thảo luận đề án Đại hội ở các cấp và Đại hội các cấp. Phát biểu tại cuộc họp, Người nhắc nhở, việc thảo luận là để củng cố, giáo dục đảng viên và việc thảo luận phải có hướng dẫn cụ thể vào những điểm chính, tránh họp nhiều mà kết quả ít. Tiếp đó, ngày 25-3-1960, Người dự cuộc họp Bộ Chính trị bàn thêm một số vấn đề chuẩn bị Đại hội toàn quốc của Đảng và vấn đề giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên.
Để thiết thực góp phần chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội, ngày 3-4-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài Một cách thảo luận Dự thảo Điều lệ Đảng , ký bút danh T.L., đăng trên báo Nhân dân , số 2207, nêu rõ tầm quan trọng cũng như những điều kiện để cuộc thảo luận Dự thảo Điều lệ Đảng đạt kết quả tốt. Trong đó, Người nêu rõ cách thảo luận có kết quả là: "Trước khi thảo luận, mỗi một đồng chí phải nghiên cứu thật kỹ bản dự thảo Điều lệ Đảng. Khi thảo luận ở chi bộ thì mỗi một đồng chí phải liên hệ đúng đắn Điều lệ Đảng với công tác của chi bộ và của mình để góp đầy đủ ý kiến với Đại hội Đảng. Phải thành khẩn tự phê bình tư tưởng và công tác của mình, sửa chữa những khuyết điểm để củng cố tốt chi bộ và để rèn luyện mình trở thành người đảng viên tốt" 8 . Để bảo đảm thảo luận có chất lượng, Người còn chỉ rõ: "Để các chi bộ thảo luận tốt, thì cấp trên phải lãnh đạo, giúp đỡ, theo dõi, rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm. Có khi các chi bộ nêu những câu hỏi khó, nếu chưa chắc chắn thì nên hỏi Trung ương, không nên giải thích hoặc trả lời một cách miễn cưỡng" 9 . Kết luận bài báo, Người nêu rõ: "Đại hội Đảng rất quan hệ đến tương lai cách mạng của Đảng ta và của nhân dân ta. Đại hội sẽ làm cho Đảng ta đã đoàn kết càng đoàn kết hơn nữa... Cho nên, toàn thể đồng chí ta phải thảo luận kỹ càng các đề án và đóng góp ý kiến dồi dào, để đảm bảo Đại hội thành công thật tốt đẹp" 10 .
Tuy bận rất nhiều công việc đối nội, đối ngoại của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn bố trí thời gian đến thăm và nói chuyện với các địa phương, đơn vị, đặc biệt là các đại hội ở cơ sở. Ngày 20-6-1960, Người đến thăm Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội. Nói chuyện tại Đại hội, Người chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng bộ là phải "hoàn thành kế hoạch năm 1960 và kế hoạch ba năm để lấy thành tích chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III". Ngày 1-7-1960, Người đến thăm Đại hội Đảng bộ các cơ quan dân, chính, đảng ở Trung ương. Nói chuyện với các đại biểu, Người nêu rõ ý nghĩa đợt học tập, thảo luận các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III trong việc nâng cao tư tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật của mỗi đảng viên, mỗi chi bộ. Và Người yêu cầu cán bộ, đảng viên cần nêu cao hơn nữa tinh thần phấn đấu cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân, cần nâng cao tinh thần làm chủ, tinh thần cần kiệm xây dựng nước nhà. Kết thúc buổi nói chuyện, Người nhắc nhở: "Trước và trong khi Đại hội Đảng toàn quốc họp, toàn Đảng, toàn dân ta có tinh thần phấn khởi hăng hái thi đua hay không, đó là do công tác của cán bộ, đảng viên ta có tốt hay không. Sau Đại hội Đảng, chúng ta sẽ bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Chúng ta phải có một tinh thần quyết chiến quyết thắng và phải biến quyết tâm đó thành quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân" 11 . Tiếp đó, ngày 21-7-1960, Người đi thăm và nói chuyện với Đại hội Đảng toàn quân . Tại Đại hội Người căn dặn các đại biểu nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ; đồng thời Người kêu gọi toàn quân ra sức thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội III của Đảng.
Cuối tháng 7-1960, Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã thảo luận những vấn đề về triệu tập Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Hội nghị đã nghe báo cáo về tình hình đại hội đảng bộ các cấp và các ý kiến mà các đại hội đã góp và bản Đề cương Báo cáo chính trị và bản Dự thảo Điều lệ Đảng (sửa đổi). Hội nghị đã thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương sẽ trình trước Đại hội Đảng, bản báo cáo sửa đổi Điều lệ và bản Dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đã được sửa chữa lại sau khi nghiên cứu ý kiến của đại hội đảng bộ các cấp. Hội nghị đã quyết định ngày khai mạc Đại hội toàn quốc lần thứ III là ngày 5-9-1960. Hội nghị cũng quyết định: "Từ nay đến ngày khai mạc Đại hội, các đại biểu đã được cử đi họp Đại hội cần tích cực chuẩn bị cho Đại hội, và các cấp uỷ địa phương, cùng các ngành chuyên môn cần đẩy mạnh mọi mặt công tác trước mắt, bảo đảm cho Đại hội thành công tốt đẹp" 12 .
Trước khi bước vào Đại hội, trong những ngày đầu tháng 9-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tục tiếp các đoàn đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế đến dự Đại hội lần thứ III theo lời mời của Đảng ta; đồng thời Người cũng dành thời gian đi thăm và gặp gỡ đoàn đại biểu các địa phương về dự Đại hội, đặc biệt là đoàn đại biểu Liên khu V từ miền Nam ra và đơn vị Công an vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ Đại hội lần thứ III của Đảng sắp họp.
Như vậy, từ cuối năm 1959 đến tháng 9-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta tích cực chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội lần thứ III của Đảng. Những hoạt động của Người trong thời gian này, đặc biệt là những ý kiến của Người mang tính chỉ đạo là những định hướng rất cơ bản để Đảng ta chuẩn bị cho thành công của Đại hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng khai mạc giữa lúc công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế, văn hóa ở miền Bắc đang giành được thắng lợi có tính chất quyết định, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đang có những bước tiến mới; trong khi cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam và nhân dân cả nước nhằm thực hiện thống nhất nước nhà đang phát triển mạnh mẽ; trong lúc toàn dân ta vui mừng kỷ niệm 15 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và 70 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhân dân cả nước, kiều bào ở nước ngoài và cán bộ, đảng viên đang hướng về Đại hội với niềm phấn khởi, tin tưởng.
Đại hội họp từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960 tại Thủ đô Hà Nội. Sau 30 năm thành lập, đây là lần đầu tiên Đảng tiến hành Đại hội tại Thủ đô, trái tim của Tổ quốc. Về dự Đại hội lần này có 525 đại biểu chính thức và dự khuyết, thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên của Đảng trong cả nước, tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh anh dũng của Đảng trong 30 năm qua. Phần đông các đại biểu đều trên 10 tuổi Đảng. Một nửa số đại biểu là các đảng viên đã tham gia cách mạng từ khi Đảng còn trong thời kỳ hoạt động bí mật. Tất cả các đại biểu về dự đều đã trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Gần 20 đại biểu là anh hùng, chiến sĩ thi đua, trên 40 đại biểu là phụ nữ; hàng chục đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số, tới 40 đại biểu là nhà thơ, nhà văn, nhà giáo, nhà khoa học... Dự Đại hội còn có đại biểu Đảng Xã hội Việt Nam, Đảng Dân chủ Việt Nam và các đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đến dự Đại hội còn có các đoàn đại biểu quốc tế, các đảng anh em trên thế giới như: Liên Xô, Trung Quốc, Anbani, Bungari, Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Hunggari, Mông Cổ, Rumani, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Pháp, Inđônêxia, Nhật Bản, Canađa và các đảng cộng sản anh em khác.
Đại hội làm việc liên tục trong sáu ngày, đã nghe và thảo luận nhiều báo cáo quan trọng của Trung ương Đảng. Đại hội đã thông qua Nghị quyết của Đại hội, Điều lệ mới của Đảng, Lời kêu gọi của Đại hội và bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III.
Ngày 5-9-1960 là ngày làm việc đầu tiên của Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng . Mở đầu Diễn văn, Người chúc mừng các đại biểu về dự Đại hội. Đặc biệt là Người rất sung sướng và phấn khởi trước sự có mặt của đại biểu các Đảng Cộng sản anh em tại Đại hội. Để thể hiện tình cảm hữu nghị và đoàn kết giữa Đảng ta và các đảng anh em, Người nói: "Các đồng chí đã vì tình nghĩa quốc tế cao cả mà đến dự Đại hội của chúng ta và mang đến cho chúng ta tình thân ái của các đảng anh em. Thật là:
Quan sơn muôn dặm một nhà,
Bốn phương vô sản đều là anh em!" 13 .
Trải qua 30 năm đấu tranh cách mạng, trong chín năm kháng chiến chống Pháp và sáu năm đấu tranh cách mạng ở miền Nam, biết bao đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh anh dũng cho dân tộc, cho Tổ quốc, tại Đại hội trọng thể này, để tưởng nhớ những người con của Đảng, của dân tộc đã khuất, Người nói: "Đảng ta và đồng bào ta tưởng nhớ mãi mãi những người con ưu tú đã phấn đấu đến cùng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa". Toàn thể Đại hội mặc niệm một phút.
Trong Diễn văn, Người nhận định một cách tổng quát tình hình cách mạng nước ta từ Đại hội lần thứ II (1951) trở đi. Đó là: chiến thắng oanh liệt ở Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là chuyển biến lớn của cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành thắng lợi, đã thành công trong công cuộc khôi phục kinh tế và đang hoàn thành thắng lợi kế hoạch ba năm phát triển kinh tế và văn hóa. Miền Bắc đang được củng cố thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhưng ở miền Nam do Mỹ - Diệm cố tình chia cắt nước ta, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, nhân dân miền Nam vẫn phải sống dưới ách thống trị tàn bạo của chúng. Tuy vậy, nhân dân miền Nam không ngừng đấu tranh để thống nhất đất nước. Cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam ta đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ, rất xứng với danh hiệu mà Người đã tặng cho đồng bào miền Nam là "Thành đồng Tổ quốc". Đồng thời, Người cũng chỉ ra những nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam: truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta, tinh thần đoàn kết của đồng bào trong cả nước, sự giúp đỡ hết lòng của đảng và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, "là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân" v.v.. Sau khi nhận định tổng quát những thành tích và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ Đại hội lần thứ II trở đi, Người khẳng định rằng đường lối của Đảng ta là đúng đắn, sự lãnh đạo của Đảng ta là vững vàng, Đảng ta rất xứng đáng với lòng tin cậy của nhân dân cả nước ta. Người nói, lịch sử 30 năm đấu tranh anh dũng của Đảng đã dạy chúng ta rằng: "Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp vô sản và của dân tộc; giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng và sự đoàn kết nhất trí giữa các đảng cộng sản, giữa các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi. Từ trước tới nay, Đảng ta đã làm đúng như thế. Từ nay về sau, Đảng ta nhất định sẽ làm đúng như thế" 14 .
Là một đảng cách mạng chân chính, một Đảng Cộng sản kiên cường, Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, khi phát hiện thấy khuyết điểm sai lầm, Đảng dũng cảm tự phê bình và kiên quyết sửa chữa. Trong Diễn văn, Người nêu rõ: "Đảng ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn, nhưng không phải là không có sai lầm. Song chúng ta đã không hề che giấu sai lầm, trái lại chúng ta đã thật thà tự phê bình và tích cực sửa chữa. Thắng lợi đã không hề làm chúng ta say sưa, tự mãn" 15 .
Từ những khái quát nêu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là: Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Đây là đường lối cách mạng sáng tạo, đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta cùng một lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Người đã khái quát nhiệm vụ mới của cách mạng Việt Nam và nói rõ: "Đại hội lần thứ II là Đại hội kháng chiến, Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà" 16 .
Trong Diễn văn đọc tại Đại hội, một lần nữa Người lại khẳng định chân lý: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Người còn nói rõ: "Nhân dân ta đã từng đau khổ vì bọn đế quốc, và ngày nay còn bị Mỹ - Diệm chia cắt đất nước, dày xéo miền Nam. Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng được miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ - Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên" 17 . Vì vậy, nhiệm vụ đấu tranh thống nhất nước nhà phải được tiến hành đồng thời với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; lấy thành quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa làm hậu thuẫn, làm cơ sở, làm động lực cho cuộc đấu tranh ở miền Nam. Đó là đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và là quyết tâm hành động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Cách mạng thế giới bao gồm lực lượng hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa đã mạnh hơn hẳn phe đế quốc. Nhân dân thế giới đang đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh tích cực ngăn ngừa chiến tranh thế giới, thực hiện hòa bình lâu dài. Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam châu Á, "ra sức góp phần tăng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới". Đồng thời, Người hoan nghênh tinh thần quốc tế vô sản giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới đoàn kết đấu tranh cho hòa bình, an ninh của các dân tộc và cho chủ nghĩa xã hội.
Để bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ vấn đề có ý nghĩa quyết định là "phải nâng cao hơn nữa sức chiến đấu của toàn Đảng ta, phát huy hơn nữa tác dụng lãnh đạo của Đảng ta trên mọi mặt công tác". Từ trước đến nay, Đảng ta đã cố gắng liên hệ chặt chẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tế cách mạng Việt Nam; cán bộ, đảng viên của Đảng nói chung đều có phẩm chất cách mạng tốt đẹp. Nhưng như Người đã chỉ rõ, còn nhiều khuyết điểm như: bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, tác phong quan liêu, chủ nghĩa cá nhân... Vì vậy, "phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tăng cường giáo dục trong Đảng, đấu tranh khắc phục những khuyết điểm, phải nâng cao hơn nữa tính giai cấp và tính tiên phong của Đảng, tăng cường không ngừng mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng, phải biết đoàn kết mọi người yêu nước và tiến bộ để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà".
Là một trong những văn kiện quan trọng của Đại hội, Diễn văn khai mạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần đưa đến thành công của Đại hội.
*
* *
Trong ngày 5-9, Đại hội đã nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn trình bày. Sau khi phân tích sâu sắc những thay đổi to lớn của tình hình thế giới; kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng từ Đại hội lần thứ II đến Đại hội lần này, đặc biệt là từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, Báo cáo nêu rõ: Trong quá trình kháng chiến, Đảng ta dựa trên cơ sở liên minh công nông và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đã ra sức mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện phương châm toàn dân đoàn kết, kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh, diệt giặc cứu nước. Làm cho phương châm kháng chiến lâu dài được thấu suốt là một quá trình giáo dục và đấu tranh tư tưởng bền bỉ trong toàn Đảng và toàn dân, chống những khuynh hướng sai lầm đã từng nảy sinh ra trong những năm kháng chiến. Đi đôi với kháng chiến và để bồi dưỡng lực lượng kháng chiến, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành từng bước cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến nhằm hạn chế và từng bước xóa bỏ sự bóc lột của giai cấp địa chủ, cải thiện đời sống nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân, lực lượng to lớn của cuộc kháng chiến. Tiến hành cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến là một chủ trương đúng đắn của Đảng, đã đưa cuộc kháng chiến trường kỳ của nhân dân ta kết thúc thắng lợi. Thắng lợi đó chứng tỏ rằng, "trong điều kiện thế giới ngày nay, một dân tộc dù là nhỏ yếu, nhưng một khi đã đoàn kết đứng lên kiên quyết đấu tranh dưới sự lãnh đạo của chính đảng Mác - Lênin để giành độc lập và dân chủ, thì có đầy đủ lực lượng để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược". Từ đó, Báo cáo khẳng định: "Ở nước ta, trong gần mười năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta đứng đầu là đồng chí Hồ Chí Minh kính mến, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi lịch sử" 18 .
Trong phần nói về tình hình chung và nhiệm vụ của Đảng , sau khi phân tích tình hình đất nước với đặc điểm là đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, có hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Báo cáo xác định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới.
Hai nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt làm hai. Song hai nhiệm vụ đó trước mắt đều có một mục tiêu chung là thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc, đều nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng. Giải quyết mâu thuẫn chung ấy là trách nhiệm của cả nước. Song, mỗi miền có nhiệm vụ chiến lược và có vị trí riêng.
Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta , đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà . Nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta trong thời kỳ này chứng minh đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo. Nó thể hiện nhất quán của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc , sau khi phân tích ba đặc điểm của cách mạng miền Bắc mà "đặc điểm to nhất... là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa" 19 , Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trong thời kỳ quá độ là:
"Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới.
Muốn đạt mục tiêu ấy, phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến" 20 .
Về cách mạng miền Nam , Đại hội nhận định rằng: chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở miền Nam là nguồn gốc mọi đau thương, tang tóc của đồng bào miền Nam, là trở lực ngăn cản sự nghiệp hòa bình thống nhất Tổ quốc. Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh" 21 . Hiện tại, ở miền Nam, mâu thuẫn sâu sắc nhất là mâu thuẫn giữa một bên là nhân dân miền Nam với một bên là đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Do đó, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: "Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới" 22 .
Đấu tranh thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước. Đó là một quá trình cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài. Đại hội chủ trương kiên quyết giữ vững đường lối hòa bình thống nhất nước nhà. Vì điều đó phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân ta và của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, phù hợp với mục tiêu đấu tranh của thời đại. Song phải luôn luôn cảnh giác, đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và tay sai liều lĩnh mở rộng chiến tranh, xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc.
Tổng kết 30 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đại hội nêu lên những bài học kinh nghiệm lớn:
- Xây dựng thành công chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, luôn luôn đoàn kết, nhất trí, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, giữ vững quyền lãnh đạo cách mạng.
- Vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tế cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong, coi nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất và nhiệm vụ chống phong kiến phải tiến hành từng bước, kết hợp với nhiệm vụ chống đế quốc.
- Giải quyết đúng đắn vấn đề nông dân, xây dựng được khối liên minh công nông vững chắc.
- Lấy việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng làm cơ bản, khéo kết hợp hoạt động không hợp pháp với hoạt động hợp pháp, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, kết hợp lực lượng vũ trang với lực lượng chính trị.
- Xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang nhân dân.
- Xây dựng và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp được các lực lượng đông đảo.
- Tăng cường nhà nước dân chủ nhân dân trên cơ sở liên minh công nông, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.
- Khéo léo lợi dụng những mâu thuẫn cục bộ và tạm thời trong hàng ngũ kẻ thù.
- Tăng cường đoàn kết quốc tế.
Kinh nghiệm cách mạng trong 30 năm qua chứng tỏ rằng, sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Muốn cho Đảng làm tròn nhiệm vụ trong giai đoạn mới, vấn đề mấu chốt vẫn là không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phải "nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, cụ thể là phải tăng cường tính giai cấp và tính tiên phong của Đảng, phải củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng, phải cải tiến công tác lãnh đạo của Đảng, phải nâng cao không ngừng trình độ hiểu biết và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên, phải làm cho chi bộ trở thành hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở cơ sở.
Ngày 6-9, Đại hội nghe Báo cáo về việc sửa đổi Điều lệ Đảng do đồng chí Lê Đức Thọ trình bày. Kiểm điểm công tác xây dựng Đảng, Báo cáo nhận định: "Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn noi theo những nguyên lý cơ bản về xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin; và nói chung đã biết vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, bảo đảm cho Đảng ta có đầy đủ tính chất một Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân". Bản Điều lệ sửa đổi của Đảng gồm có phần Cương lĩnh chung, 12 chương với 62 điều. Cương lĩnh chung ghi rõ: "Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiên phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân... Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng... Đảng Lao động Việt Nam đi đường lối quần chúng trong mọi hoạt động của mình... Đảng tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có kỷ luật rất nghiêm minh... Đảng lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển của Đảng... Đảng rất coi trọng việc tăng cường đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng..." 23 .
Ngày 7-9, Đại hội đã nghe Báo cáo về nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) do đồng chí Nguyễn Duy Trinh trình bày. Phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là: "Sau khi cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa giành được thắng lợi có tính chất quyết định, chúng ta cần phải chuyển sang lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng tâm, thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế miền Bắc nước ta trở thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa" 24 .
Thực hiện phương hướng đó, Đại hội đã quyết định trong kế hoạch năm năm tới phải hoàn thành những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp.
- Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế không xã hội chủ nghĩa.
- Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề.
- Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân lao động.
- Ra sức củng cố quốc phòng, tăng cường trật tự, an ninh.
Các nhiệm vụ trên liên hệ mật thiết với nhau, thể hiện yêu cầu phát triển trọng tâm và toàn diện, phát triển với nhịp độ nhanh và cân đối của tất cả các ngành kinh tế, văn hóa ở miền Bắc. Kế hoạch đó là sự cụ thể hóa đường lối của Đảng ta trong những năm đầu của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội cũng quyết định các chủ trương tăng cường nhà nước dân chủ nhân dân, củng cố sự nhất trí về chính trị và tinh thần của nhân dân miền Bắc, đoàn kết quốc tế và đẩy mạnh xây dựng Đảng.
Các ngày còn lại, Đại hội còn nghe nhiều báo cáo tham luận của các đại biểu các ngành, các đảng bộ, phát biểu của các đoàn đại biểu các đảnh anh em chào mừng Đại hội và thảo luận các báo cáo và ra Nghị quyết của Đại hội.
Đại hội nhất trí đánh giá: "Đồng chí Hồ Chí Minh là người cộng sản đầu tiên ở nước ta, là người sáng lập và lãnh đạo Đảng ta. Gần 50 năm qua, đồng chí đã đem hết tinh thần và nghị lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đồng chí nêu gương chói lọi về sự trung thành vô hạn đối với lợi ích giai cấp và của dân tộc, đã phát huy đến cao độ đạo đức cộng sản chủ nghĩa: chí công vô tư, cần kiệm liêm chính. Đảng ta và nhân dân ta vô cùng tự hào về vị lãnh tụ vĩ đại của mình. Thay mặt cho toàn Đảng và toàn dân, Đại hội toàn quốc chúng ta một lần nữa tỏ lòng tin tưởng và biết ơn sâu sắc đối với đồng chí Hồ Chí Minh" 25 .
*
* *
Trong những ngày cuối, Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng gồm các uỷ viên chính thức là: Hồ Chí Minh, Hoàng Anh, Lê Quảng Ba, Nguyễn Lương Bằng, Trần Tử Bình, Nguyễn Côn, Võ Chí Công, Trường Chinh, Lê Duẩn, Văn Tiến Dũng, Trần Hữu Dực, Phạm Văn Đồng, Võ Thúc Đồng, Hà Huy Giáp, Võ Nguyên Giáp, Song Hào, Hoàng Văn Hoan, Trần Quốc Hoàn, Phạm Hùng, Tố Hữu, Nguyễn Văn Kỉnh, Nguyễn Khang, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Lam, Nguyễn Văn Linh, Lê Văn Lương, Trần Lương, Lê Hiến Mai, Chu Huy Mân, Đỗ Mười, Lê Thanh Nghị, Hà Thị Quế, Bùi Quang Tạo, Chu Văn Tấn, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Thị Thập, Lê Quốc Thân, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Duy Trinh, Hoàng Quốc Việt...
Các uỷ viên dự khuyết là: Lý Ban, Nguyễn Thanh Bình, Đinh Thị Cẩn, Nguyễn Thọ Chân, Lê Quang Đạo, Trần Độ, Nguyễn Đôn, Trần Quý Hai, Lê Hoàng, Trần Quang Huy, Hoàng Văn Kiểu, Nguyễn Khai, Nguyễn Hữu Khiếu, Lê Liêm, Ngô Minh Loan, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Hữu Mai, Hà Kế Tấn, Nguyễn Khánh Toàn, Hoàng Tùng, Trần Danh Tuyên, Lê Thành, Đinh Đức Thiện, Ngô Thuyền, Trần Văn Trà, Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Vịnh, Nguyễn Trọng Vĩnh... 26 .
Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 11 uỷ viên chính thức là: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan. 2 uỷ viên dự khuyết là: Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến Dũng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã ra Lời kêu gọi nhân Đại hội thành công. Lời kêu gọi có viết: "Đại hội lần thứ II của Đảng là Đại hội đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Đại hội lần thứ III này của Đảng là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà... Những vấn đề mà Đại hội thảo luận và quyết định là những vấn đề quan trọng bậc nhất đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, phù hợp với yêu cầu của tình hình và nguyện vọng của đồng bào, có tác dụng soi đường và động viên toàn Đảng và toàn dân ta tiến tới hoàn thành những nhiệm vụ mới, giành những thắng lợi mới". "Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân ta ra sức phấn đấu thực hiện Nghị quyết lịch sử của Đại hội, gây một phong trào cách mạng sôi nổi, vận động nhân dân thi đua yêu nước mạnh mẽ và liên tục để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, và thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà" . Đại hội cũng tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, sẽ thành công trong việc thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc.
Ngày 10-9, Đại hội lần thứ III của Đảng đã thành công tốt đẹp và bế mạc. Trong Diễn văn bế mạc , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết Đại hội. Người nói: Kết quả to lớn của Đại hội Đảng ta lần này là:
- Quyết định đường lối chung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đường lối đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.
- Quyết định đường lối tổ chức để tăng cường sức chiến đấu và sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới của cách mạng.
- Và bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng ta.
Người khẳng định một cách tin tưởng: "Đại hội lần thứ II đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà... Mười lăm năm trước đây, chỉ có 5.000 đảng viên và trong những điều kiện cực kỳ khó khăn mà Đảng ta đã lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi. Ngày nay, Đảng ta có hơn 50 vạn đồng chí, lại có những điều kiện rất thuận lợi, cho nên Đảng ta nhất định lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà đến thắng lợi" 27 .
Cả Đại hội cùng với Người hô vang những khẩu hiệu thành công rực rỡ của Đại hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng - một Đại hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vô vàn kính yêu của chúng ta tham gia lần cuối cùng - có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội Đảng ta lần này đánh dấu bước trưởng thành và phát triển vượt bậc của Đảng về mọi phương diện trên con đường lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Những vấn đề mà Đại hội đã thảo luận và quyết định là những nhiệm vụ cơ bản, đúng đắn của cách mạng nước ta, có tầm quan trọng chiến lược. Do đó, đã động viên toàn Đảng, toàn dân ta phấn đấu tiến lên hoàn thành thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng được tiến hành đồng thời trên đất nước ta, dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta. Đại hội biểu thị ý chí cách mạng không gì lay chuyển nổi của toàn Đảng, toàn dân ta trong giai đoạn cách mạng mới. Đại hội là ngọn cờ dẫn dắt nhân dân cả nước ta tiến lên giành những thắng lợi mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với Đại hội của Người rằng: "Toàn Đảng và toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thành một khối khổng lồ. Chúng ta sáng tạo. Chúng ta xây dựng. Chúng ta tiến lên. Quyết không có lực lượng nào ngăn được chúng ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác" 28 .
III- CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH CÙNG VỚI ĐẢNG TA LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT NƯỚC NHÀ
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng do Đại hội đề ra, cùng một lúc thực hiện hai chiến lược cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.
Ở miền Bắc, tiếp theo những năm cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa theo chủ nghĩa xã hội, từ năm 1961, nhân dân ta ra sức thi đua lao động, sản xuất, xây dựng và bảo vệ miền Bắc thành "hậu phương vững chắc" của cách mạng cả nước.
Ở miền Nam, cũng từ năm 1961, trên đà thắng lợi của phong trào "Đồng khởi", nhân dân ta đã tiến lên phá thế kìm kẹp của Mỹ và tay sai, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn, mạnh mẽ, nhằm thực hiện "nhiệm vụ trực tiếp", giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Miền Bắc nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa". Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng, theo tư tưởng chỉ đạo của Người là: "Đường lối chủ trương có rồi, phải có biện pháp thực hiện cho tốt, chủ nghĩa xã hội là phải có biện pháp. Kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần, và quyết tâm phải ba phần" 29 . Người còn vạch rõ, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là cuộc cách mạng toàn diện, triệt để, sâu sắc, lâu dài và gian khổ nhằm "chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu" để "xây dựng hạnh phúc muôn đời cho nhân dân ta, con cháu ta".
Một bước thực hiện mục đích trên là thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1965). Kế hoạch này với những quan điểm đúng đắn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đã làm nên những thành tựu rực rỡ với những biến đổi, tiến bộ to lớn.
Trong bước đi ban đầu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, điều quyết định trước hết phải kết hợp đúng đắn phát triển công nghiệp với nông nghiệp nhằm tạo ra cơ cấu công nông nghiệp hợp lý. "Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ nhau và cùng nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và chóng đi đến mục đích" . Muốn vậy, ngay từ đầu phải ra sức phát triển nông nghiệp, đưa nông nghiệp dần dần lên sản xuất xã hội chủ nghĩa, bảo đảm là cơ sở phát triển công nghiệp.
Khẳng định vị trí quan trọng hàng đầu của nông nghiệp, Người nói: "Có thực mới vực được đạo", "Dân dĩ thực vi tiên", "Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác). Muốn giải quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lương thực . Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng" 30 .
Để tập trung sức phát triển nông nghiệp, Người yêu cầu tất cả các cấp, các ngành "từ Phủ Thủ tướng đến Ban công tác nông thôn của Đảng, đến các Bộ Nông nghiệp, Thủy lợi, Lâm nghiệp, Công nghiệp, Thương nghiệp, Tài chính, Ngân hàng v.v., đều phải có kế hoạch phục vụ nông nghiệp, giúp nông dân, hợp tác xã phát triển sản xuất" 31.
Dưới ánh sáng các nghị quyết của Đảng và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc củng cố, phát triển hợp tác xã nông nghiệp và phát triển nông nghiệp trong những năm 1961 - 1965 và cả trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này, đã thu được kết quả to lớn. Người đã nhận định: "Nền nông nghiệp của ta đang ngày càng vươn lên mạnh mẽ, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa".
Đối với phát triển công nghiệp, tại Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương (khóa III), Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền công nghiệp của nước ta. Người chỉ rõ: "Để đạt mục đích công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương". Trong kế hoạch năm năm lần thứ nhất, Người vạch rõ: "Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân, cung cấp máy bơm nước, phân hóa học, thuốc trừ sâu... để đẩy mạnh nông nghiệp và cung cấp dần dần máy cày, máy bừa cho các hợp tác xã nông nghiệp", "thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân". Tổng kết thành tựu bước đầu của công nghiệp miền Bắc, đầu năm 1964, Người nêu rõ: "Chúng ta có 1.000 nhà máy... Những cơ sở quan trọng trong các ngành công nghiệp nặng: chế tạo máy móc, sức điện, luyện kim, hóa chất, khai mỏ v.v. dần dần được xây dựng. Công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp đã sản xuất được phần lớn hàng tiêu dùng trong nước" 32 . Ngoài ra, Người cũng rất quan tâm đến thương nghiệp, giao thông vận tải và các ngành kinh tế khác nhằm phục vụ đời sống nhân dân.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khóa III), Người nói: "Đại hội lần thứ III đã có Nghị quyết chỉ rõ đường lối chung về phát triển kinh tế. Hội nghị Trung ương lần thứ năm đã có Nghị quyết về phát triển nông nghiệp. Hội nghị Trung ương lần thứ bảy đã có Nghị quyết về phát triển công nghiệp. Thế là chúng ta có phương hướng rõ ràng, biện pháp cụ thể" 33 . Rõ ràng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta vạnh đường cụ thể phát triển kinh tế của miền Bắc trong bước đi ban đầu lên chủ nghĩa xã hội. Đây là cơ sở để Đảng ta sau này hoàn chỉnh đường lối kinh tế tại các Đại hội IV, V và IV của Đảng.
Bên cạnh việc quan tâm đến phát triển kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không quên đời sống tinh thần của nhân dân ta. Người rất quan tâm đến việc phát triển văn hóa, giáo dục, sức khỏe của nhân dân. Theo Người, cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa phải được tiến hành đồng thời với cách mạng về kinh tế và khoa học, kỹ thuật, nhằm xóa bỏ những tàn dư tư tưởng, thói hư, tật xấu và hủ tục của xã hội cũ, xây dựng nền văn hóa mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và đậm đà tính dân tộc, xây dựng con người mới, lối sống mới và đạo đức mới. Khẳng định tính tất yếu phải chủ động xây dựng con người mới có tư tưởng, đạo đức, tác phong xã hội chủ nghĩa trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nêu rõ: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Đây là luận điểm rất quan trọng có tính chỉ đạo toàn bộ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện, Người rất quan tâm đến yếu tố con người.
Một trong những vấn đề quan trọng nữa mà Người quan tâm, cùng Đảng lãnh đạo và thực hiện là xây dựng, củng cố các tổ chức quần chúng của Đảng trong tình hình mới. Người thường nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố chính quyền nhà nước, đến vai trò của Công đoàn, Mặt trận dân tộc thống nhất, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, đến phong trào thi đua yêu nước v.v..
Nắm vững khoa học và nghệ thuật tổ chức quần chúng làm cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta phát động quần chúng dấy lên phong trào thi đua sôi nổi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Cả dân tộc sục sôi khí thế cách mạng hào hùng. Đánh giá nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, một trong hai nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra, tại Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập ngày 27-3-1964, Người nói: "Làng xóm ta xưa kia lam lũ quanh năm mà vẫn quanh năm đói rách. Làng xóm ta ngày nay bốn mùa nhộn nhịp cảnh làm ăn tập thể. Đâu đâu cũng có trường học, nhà gửi trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên. Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ" 34 . Người kết luận: "miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới" 35 .
Trên cơ sở kinh tế và văn hóa phát triển, các lực lượng vũ trang của miền Bắc được xây dựng ngày càng vững mạnh theo phương hướng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị là tiến lên chính quy và hiện đại, đủ khả năng bảo vệ miền Bắc và trực tiếp tham gia chiến đấu tại miền Nam, là lực lượng dự trữ chiến lược cho quân chủ lực miền Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đạt được những thành tựu to lớn, có tác dụng mạnh mẽ đối với sự nghiệp cách mạng chung của cả nước. Miền Bắc vững mạnh về mọi mặt là một bảo đảm vững chắc để tiếp tục vươn lên và làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ khi chúng mở rộng chiến tranh ra miền Bắc; đồng thời là nguồn động viên, cổ vũ đồng bào miền Nam tin tưởng, tiếp tục đấu tranh chống Mỹ và tay sai, là lực lượng dự trữ để chi viện sức người, sức của cho miền Nam, thực sự là "hậu phương vững chắc" của cả nước.
*
* *
Về nhiệm vụ đấu tranh thống nhất nước nhà . Hốt hoảng trước những đòn tiến công dồn dập về chính trị và quân sự của quân dân miền Nam trong những năm 1959 - 1960, Mỹ - Diệm tìm cách đối phó quyết liệt. Năm 1961, Kennơđi lên làm Tổng thống nước Mỹ thay Aixenhao đã thay chiến lược "Trả đũa ồ ạt" của Aixenhao bằng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", nhằm đối phó với phong trào giải phóng dân tộc được coi là mối đe dọa lớn nhất đối với Mỹ trong thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Ý đồ này thể hiện trong bài phát biểu nhậm chức của Tổng thống Kennơđi ngày 20-1-1961: "Chúng ta nói rõ cho bất cứ một nước nào trên thế giới này biết rằng chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, chịu đựng bất cứ gánh nặng nào, chống bất cứ kẻ thù nào, nhằm bảo đảm sự tồn tại và thắng lợi của tự do". Mỹ đã chọn Việt Nam để thí nghiệm kế hoạch đánh bại phong trào giải phóng dân tộc.
Để thực hiện chiến lược trên, Kennơđi liên tiếp cử các đoàn tướng tá Mỹ sang miền Nam nước ta khảo sát tình hình. Tháng 11-1961, Kennơđi và Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ thông qua "Kế hoạch Xtalây - Taylo" nhằm bình định miền Nam trong vòng 18 tháng, tiến tới dùng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Kennơđi quyết định đưa thêm 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Ngụy quyền Sài Gòn tăng cường bắt lính, phát triển quân chủ lực, tăng cường lực lượng bảo an, dân vệ. Đến tháng 10-1963, chúng đã có hàng chục vạn quân với số quân Mỹ tham chiến lên tới 16.723 tên và trang bị vũ khí và phương tiện hiện đại, Việc Mỹ - Diệm tiến hành chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" đặt cách mạng miền Nam trước thử thách nghiêm trọng.
Trước tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng chiến lược chiến tranh mới của đế quốc Mỹ và tay sai. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá chính xác âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ. Cái gọi là "Chiến tranh đặc biệt" với "Kế hoạch Xtalây - Taylo" thực chất là sự đẩy mạnh chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới bằng người Việt với vũ khí, cố vấn Mỹ. Người khẳng định: Mỹ dù có lắm tiền của, nhiều vũ khí hiện đại và hung ác đến đâu, nhân dân Việt Nam cũng không sợ. Người cùng với Đảng ta tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giải quyết đúng đắn vấn đề thuộc về chiến lược và sách lược, kết hợp đúng đắn xây dựng kinh tế với quốc phòng, hậu phương với tiền tuyến, tiến công với bảo vệ, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại..., tạo thành sức mạnh tổng hợp tiến tới đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai.
Người khẳng định được thế tiến công của cách mạng Việt Nam, nhất là từ sau phong trào "Đồng khởi". Bởi vì, Người đã nhìn rõ mối tương quan lực lượng cách mạng và phản cách mạng trên thế giới và trong nước. Người thường xuyên phân tích ý nghĩa quốc tế của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, tạo thành mặt trận rộng lớn đoàn kết với nhân dân ta chống đế quốc Mỹ. Người thường xuyên chứng minh tính chất chính nghĩa của ta, tính chất phi nghĩa của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh. Ngày 8-5-1963, Người nói thẳng với Tổng thống Mỹ Kennơđi rằng: "Việt Nam xa cách Hoa Kỳ hàng vạn dặm. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Hoa Kỳ không thù oán gì nhau. Ông có lý do gì mà gây nên cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, hoang phí hàng tỷ đôla của nhân dân Hoa Kỳ...? Ông có quyền gì mà bắt buộc hàng vạn thanh niên con em người Hoa Kỳ sang giết hại người miền Nam Việt Nam vô tội rồi họ cũng bị chết trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, bẩn thỉu ấy?... Tổng thống Kennơđi phải hiểu lịch sử. Lịch sử đã chứng tỏ rằng: Khi một dân tộc đã đoàn kết nhất trí, đấu tranh giành độc lập tự do (như tổ tiên Tổng thống ngày trước, và nhân dân miền Nam Việt Nam hiện nay), thì nhất định họ sẽ thắng lợi" 36 .
Rõ ràng sự phân tích của Người trên đây là một lời kết án đanh thép tính chất phi nghĩa của đế quốc Mỹ, đồng thời khẳng định tính chất chính nghĩa và quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta.
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng và các Nghị quyết Trung ương, thấm nhuần chủ trương chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự", quân dân miền Nam đẩy mạnh đấu tranh quân sự giành nhiều thắng lợi, điển hình là trận Ấp Bắc tháng 1-1963, báo hiệu sự phá sản của "Chiến tranh đặc biệt".
Ngày 22-11-1963, Kennơđi bị ám sát, Giônxơn lên thay đúng lúc tình hình miền Nam đang xấu đi nghiêm trọng: ngụy quyền bị khủng hoảng trầm trọng; đảo chính diễn ra liên tiếp sau khi Ngô Đình Diệm bị giết ngày 1-11-1963; ngụy quân bắt đầu tan rã; "Chiến tranh đặc biệt" trên đường phá sản. Hành động đầu tiên của Giônxơn là phái Bộ trưởng quốc phòng Mác Namara sang Sài Gòn trực tiếp vạch một "kế hoạch giành thắng lợi cho cuộc chiến tranh".
Vốn là người chịu ảnh hưởng sâu sắc của "Thuyết đôminô", Giônxơn tuyên bố: "Mỹ tiếp tục viện trợ, tiếp tục duy trì nhân viên quân sự tại miền Nam Việt Nam". Tháng 3-1964, Giônxơn thông qua kế hoạch chiến lược mới mang tên "Kế hoạch Mác Namara", quyết định tăng số cố vấn và lính Mỹ ở miền Nam. Đến cuối năm 1964, quân Mỹ ở miền Nam lên tới 26.500 tên, Mỹ còn thúc ép đồng minh của Mỹ đưa quân đội và cố vấn vào miền Nam tham chiến. Với kế hoạch này, bắt đầu thực sự là cuộc chiến tranh trực tiếp của Mỹ tuy vẫn là chiến lược "Chiến tranh đặc biệt".
Trước hành động leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt , nhằm động viên hơn nữa sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước âm mưu và hành động tăng cường và mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ. Báo cáo của Người tại Hội nghị là một văn kiện rất quan trọng, tổng kết những thành tích xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thành tích của quân và dân ta đánh Mỹ - Ngụy ở miền Nam trong 10 năm từ năm 1954 đến năm 1964. Đồng thời, Báo cáo của Người vạch rõ phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn tới. Trên cơ sở phân tích thế tất thắng của ta và thế thua không thể tránh khỏi của địch, Người nêu rõ quyết tâm đánh bại mọi hành động chiến tranh và âm mưu xâm lược miền Bắc của đế quốc Mỹ. Người tuyên bố: Đế quốc Mỹ phải hiểu rằng, "Nếu chúng liều lĩnh đụng đến miền Bắc thì chúng nhất định sẽ thất bại thảm hại" 37 . Đối với cuộc "Chiến tranh đặc biệt", Người chỉ rõ: "Tình hình ở miền Nam hiện nay chứng tỏ một cách rõ rệt sự thất bại không thể tránh khỏi của đế quốc Mỹ trong cuộc "chiến tranh đặc biệt" này. Cuộc "chiến tranh đặc biệt" mà chúng đang thí nghiệm ở miền Nam Việt Nam đã thất bại, thì chúng cũng sẽ thất bại ở bất kỳ nơi nào khác. Đó là ý nghĩa quốc tế của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam ta đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới" 38 . Cũng tại Hội nghị này, bằng lời lẽ đầy tình nhân ái. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với nhân dân Mỹ rằng: "Cuộc chiến tranh phi nghĩa mà Chính phủ Mỹ đang tiến hành ở miền Nam nước chúng tôi, đã làm tốn nhiều của, chết nhiều người của nhân dân Mỹ, lại làm ô nhục thanh danh nước Mỹ. Bây giờ đã đến lúc nhân dân Mỹ phải kiên quyết đấu tranh hơn nữa để chấm dứt cuộc chiến tranh bẩn thỉu này, để cứu vãn danh dự của nước Mỹ, và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta" 39 . Tại Hội nghị, Người kêu gọi: "Mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp lại đồng bào miền Nam ruột thịt".
Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập là kiểu Hội nghị Diên Hồng trong thời đại mới, vừa kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc mỗi khi Tổ quốc bị ngoại xâm đe dọa, vừa đưa đường lối của Đảng vào quần chúng để biến thành sức mạnh vật chất to lớn nhằm đánh thắng kẻ thù xâm lược.
Đáp lời kêu gọi của Người, quân dân miền Nam thi đua giết giặc lập công. Những chiến thắng giòn giã như Bình Giã, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Khu V, v.v., cùng với phong trào đấu tranh chính trị sôi động của nhân dân ta đã trực tiếp làm phá sản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - Ngụy. Một thời kỳ mới của cách mạng miền Nam bắt đầu.
*
* *
Bị thất bại nặng nề trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, năm 1965, đế quốc Mỹ liều lĩnh chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" hòng cứu vãn tình thế nguy khốn của chúng. Ngày 8-3-1965, Mỹ đưa 3.500 lính thủy đánh bộ đổ bộ vào cảng Đà Nẵng, Chu Lai mở đường cho việc đưa quân viễn chinh Mỹ và chư hầu ồ ạt vào miền Nam nước ta, trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược chống nhân dân Việt Nam. Cuối năm 1965, quân Mỹ và chư hầu ở miền Nam nước ta lên tới hơn 20 vạn tên, đỉnh cao là cuối năm 1968 đã lên tới hơn 55 vạn tên. Ngày 2 và 3-8-1964, Mỹ dựng lên "Sự kiện vịnh Bắc Bộ", dùng tầu khu trục Mađốc xâm phạm vùng biển Việt Nam buộc hải quân ta đánh trả, Mỹ vu cáo "Bắc Việt Nam vô cớ tấn công hải quân Hoa Kỳ". Ngày 5-8, Giônxơn ra lệnh cho máy bay các loại ném bom ồ ạt khu vực Hòn Gai, Vinh - Bến Thủy, sông Gianh, Lạch Trường, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ ở miền Bắc nước ta, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và uy hiếp tinh thần nhân dân miền Bắc. Chúng huênh hoang tuyên bố: "Đẩy lùi Bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá".
Bình luận về các hành động chiến tranh điên cuồng trên của đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Đó là hành động tuyệt vọng của chúng, khác nào con thú dữ bị thương nặng, giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng" 40 .
Mỹ không những tăng cường chiến tranh ở Việt Nam mà còn mở rộng sang cả Lào và Campuchia. Lúc này tình hình thế giới diễn biến phức tạp. Sự bất hòa Xô - Trung đã đưa tới chỗ phân liệt trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Toàn bộ tình hình nói trên đặt ra cho Đảng ta, nhân dân ta, cho Chủ tịch Hồ Chí Minh những vấn đề vô cùng phức tạp. Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã xác lập đường lối "độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế". Một mặt, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trên cả hai miền; mặt khác, tiến hành cuộc đấu tranh ngoại giao, nhằm đoàn kết ba nước Đông Dương, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Tháng 4-1965, trên cương vị là Chủ tịch Hội đồng quốc phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước... Tất cả chúng ta hãy đoàn kết, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" 41 . Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hưởng ứng chỉ thị của Người, bước vào cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước với khí thế hào hùng và niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi.
Từ cuối năm 1965, các sư đoàn Mỹ được tung ra các chiến trường miền Nam, mở những cuộc phản công lớn hòng "đánh gẫy xương sống Việt cộng". Từ năm 1966, Giônxơn ra lệnh đánh phá ác liệt miền Bắc Việt Nam, nhất là Hà Nội và Hải Phòng.
Trước hành động "leo thang" chiến tranh trắng trợn của Mỹ, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết chiến đấu đánh bại bọn xâm lược, đồng thời nói rõ với dư luận thế giới và cả với đế quốc Mỹ quyết tâm đó của nhân dân ta. Người nói: "Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa
50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng" 42 . Với niềm tin và quyết tâm sắt đá, Người khẳng định: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do . Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hơn, to đẹp hơn" 43 .
Không có gì quý hơn độc lập tự do ! Đó là tư tưởng vĩ đại, ý chí quyết thắng của Người, đó cũng là tình cảm sâu sắc và nguyện vọng thiết tha nhất của nhân dân ta từ ngàn xưa đến nay. Đó là chân lý sáng ngời, là lời hịch kêu gọi nhân dân ta chiến đấu trong cao điểm của cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ. Câu nói bất hủ đó của Người đã nhanh chóng trở thành cương lĩnh chiến đấu, sức mạnh vật chất mang sức tiến công mạnh mẽ của nhân dân ta tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người kêu gọi quân dân cả nước: "Thừa thắng xông lên, kiên quyết đập tan âm mưu của chúng, 31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền Nam Bắc, bất kỳ già trẻ gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, giành thắng lợi cuối cùng".
Quyết tâm đó của Người là quyết tâm của cả dân tộc: "Chúng ta phải ra sức cố gắng giành cho được thắng lợi quyết định ở miền Nam, bởi vì cuộc chiến tranh này căn bản là ở miền Nam, Mỹ thua ở miền Nam tức là nó thua, ta thắng ở miền Nam tức là ta thắng". Để hoàn thành được nhiệm vụ ấy, Người cùng với Đảng ta chỉ đạo kịp thời và nhanh chóng miền Bắc chuyển hướng về xây dựng kinh tế cho thích hợp với tình hình cả nước có chiến tranh, tăng cường củng cố quốc phòng, đồng thời vẫn tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, bảo đảm đủ sức bảo vệ miền Bắc, bảo đảm chi viện ngày càng nhiều cho miền Nam tiến lên diệt thật nhiều sinh lực địch.
Phối hợp với mặt trận quân sự, chính trị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất chú trọng đẩy mạnh hoạt động trên mặt trận ngoại giao. Người vạch trần bộ mặt xâm lược, hiếu chiến của đế quốc Mỹ, bao vây, cô lập chúng về mặt chính trị trong quan hệ quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước anh em và bạn bè, của các tổ chức quốc tế và của loài người tiến bộ, hình thành Mặt trận đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, hình thành Mặt trận đoàn kết của nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ dân tộc lớn nhất, đồng thời cũng là nghĩa vụ quốc tế cao cả của nhân dân ta. Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là của Liên Xô và Trung Quốc, có ý nghĩa quan trọng. Trong lúc Liên Xô và Trung Quốc bất đồng sâu sắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý rất khéo léo mối quan hệ giữa ta với Liên Xô và Trung Quốc, vừa kiên trì đường lối độc lập tự chủ, vừa tranh thủ tới mức cao nhất sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Để tập trung cho mục tiêu giành thắng lợi cho cuộc kháng chiến, bằng hành động cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo sát sao, động viên, cổ vũ kịp thời đối với nhân dân ta, từ lực lượng vũ trang đến các lực lượng bảo đảm giao thông vận tải, từ công nhân, nông dân bám máy, bám đồng ruộng cho đến các ngành, các giới trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế v.v., thậm chí đến từng cá nhân có thành tích.
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, môt cao trào thi đua chống Mỹ, cứu nước sâu rộng, sôi nổi khắp hai miền, khắp các tầng lớp nhân dân. Ở miền Nam, xuất hiện ngày càng nhiều "vành đai diệt Mỹ, "dũng sĩ diệt Mỹ". Từ chiến
thắng Vạn Tường, tháng 8-1965, trận thắng quân Mỹ đầu tiên, quân và dân miền Nam liên tiếp lập nên những chiến công diệt Mỹ ở khắp nơi. Đặc biệt là đã đánh bại hai cuộc phản công chiến lược lớn của Mỹ vào hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, thực hiện xuất sắc lời kêu gọi của Người, tiêu diệt một lực lượng lớn sinh lực địch, phá hủy một khối lượng khổng lồ phương tiện chiến tranh của địch, làm thất bại chiến lược "tìm diệt và bình định", buộc chúng phải bị động co cụm về phòng ngự "quét và giữ". Chiến lược "Chiến tranh cục bộ" đang trên đường phá sản. Ở miền Bắc, với các khẩu hiệu "Vừa sản xuất, vừa chiến đấu", "Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", "Miền Nam gọi, miền Bắc sẵn sàng", "Nhằm thẳng quân thù mà bắn"! "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến", "Tay cày, tay súng", "Tay búa, tay súng" v.v., các phong trào thi đua "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Ba điểm cao", "Ba quyết tâm" v.v., sôi nổi khắp nơi. Nhiều tập thể, cá nhân và địa phương anh hùng xuất hiện. Hơn bao giờ hết, chủ nghĩa anh hùng cách mạng thể hiện rõ trong bầu không khí sôi nổi này. Cùng với chiến thắng của quân dân miền Nam, quân dân miền Bắc đã đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, bắn rơi hàng nghìn máy bay hiện đại, bắn cháy và bắn chìm hàng trăm tàu chiến, tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Dưới bom đạn của giặc Mỹ, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc căn bản được giữ vững, một số ngành và một số mặt có bước phát triển, bảo đảm chi viện ngày càng tăng cho miền Nam đánh thắng.
*
* *
Vào năm 1968, trong Thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Sang năm nay, bọn Mỹ xâm lược càng bị động, càng lúng túng, quân và dân ta thừa thắng xông lên, nhất định giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa". Cuối thư, Người có thơ mừng:
"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng lợi tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!".
Giữa lúc cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ leo thang đến mức cao nhất, đầu năm 1968, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt vào dịp Tết Mậu Thân, nhằm đánh tan chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ. Từ đêm 30 rạng ngày 31-1-1968, quân giải phóng miền Nam đồng loạt tiến công địch ở Sài Gòn - Gia Định, Huế, Đà Nẵng và các thành phố, thị xã khác cùng các căn cứ quân sự và cơ quan đầu não của Mỹ - Ngụy, tiêu diệt một lực lượng lớn quân địch và phá hủy một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của địch. Khắp nơi nhân dân nổi dậy đập tan bộ máy ngụy quyền, giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Cách mạng miền Nam giành được thắng lợi to lớn chưa từng có. Mỹ - Ngụy bị giáng một đòn bất ngờ, choáng váng. Trong Điện gửi Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, ngày 4-2-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về ý nghĩa của thắng lợi này: "Thắng lợi đầu Xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi! Không gì cứu vãn nổi sự sụp đổ hoàn toàn của giặc Mỹ và tay sai" 44 .
Thắng lợi của quân và dân ta ở miền Bắc trong cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ lần thứ nhất cùng với thắng lợi vang dội của quân và dân ta ở miền Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt tết Mậu Thân buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt ném bom không điều kiện đối với miền Bắc và phải ngồi vào bàn đàm phán với đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị ở Pari. Ngày 7-5-1968, đoàn đại biểu ta lên đường đi Pari. Trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và ân cần dặn dò đoàn nhiều điều quan trọng 45 .
Nhằm phát huy thắng lợi và động viên tinh thần tiến công liên tục, ngày 3-11-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: "Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc" 46 . Đồng thời, Người cũng tuyên bố một cách dứt khoát: "Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi".
Đại biểu cho thế lực phản động và hiếu chiến nhất trong giới tư bản lũng đoạn Mỹ, ngày 20-1-1969, sau khi nhậm chức Tổng thống, Níchxơn tuy không thể cưỡng lại xu thế xuống thang, nhưng tìm cách kéo dài và mở rộng chiến tranh bằng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Mục tiêu của chiến lược này là rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam mà ngụy quyền vẫn tồn tại. Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, cùng một lúc Níchxơn sử dụng sức mạnh tối đa của cả ba loại chiến tranh: chiến tranh giành dân, chiến tranh bóp nghẹt và chiến tranh hủy diệt; tìm mọi cách chia rẽ và làm suy yếu các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là trong việc ủng hộ và giúp đỡ chúng ta chống Mỹ, cứu nước; đồng thời đẩy mạnh "Chiến tranh đặc biệt" ở Lào, xúc tiến việc lật đổ Chính phủ trung lập Campuchia. Tuy nhiên, như nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị tại Hội nghị tháng 4-1969: "Việt Nam hóa chiến tranh" của Níchxơn là một chiến lược ra đời trong thế thất bại, bế tắc và chứa đầy mâu thuẫn bên trong không thể khắc phục được.
Ngày 25-1-1969, Hội nghị Pari bàn về kết thúc chiến tranh ở Việt Nam chính thức khai mạc. Tại diễn đàn, phía Mỹ tìm mọi cách dây dưa, kéo dài, có lúc làm gián đoạn cuộc họp. Mỹ vẫn muốn giành thế mạnh trên chiến trường để ép ta trên bàn Hội nghị chấp nhận một giải pháp có lợi cho chúng. Tháng 5-1969, phía Mỹ đưa ra "Đề nghị hòa bình 8 điểm" mà nội dung chủ yếu là: cùng rút quân, rút quân có giám sát quốc tế, tổ chức bầu cử, trao trả tù binh, thi hành Hiệp nghị Giơnevơ... Về phía ta, đấu tranh ngoại giao được coi là một mặt trận. Từ năm 1969 trở đi, ta đòi Mỹ phải rút hết và không điều kiện quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để cùng với các mặt trận quân sự, chính trị thực hiện phương châm chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
Ngày 25-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn dân . Trong đó phê phán Níchxơn ngoan cố đẩy mạnh chiến tranh xâm lược, đồng thời Người vạch rõ: "Tại Hội nghị Pari, đế quốc Mỹ cứ khư khư đưa ra những đòi hỏi cực kỳ vô lý, không chịu thảo luận nghiêm chỉnh giải pháp toàn bộ 10 điểm hợp tình, hợp lý do Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam chủ trương. Níchxơn định rút 25.000 quân Mỹ, hòng xoa dịu dư luận nhân dân Mỹ và dư luận thế giới. Đó là một trò bịp". Người khẳng định rõ ràng: "Nhân dân Việt Nam kiên quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hết sạch, chứ không phải chỉ rút 25.000 hoặc 250.000 hay 50 vạn, mà phải rút hết, toàn bộ, không điều kiện". Một lần nữa, Người kêu gọi quân và dân cả nước ta "triệu người như một, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ hy sinh, không sợ gian khổ, quyết kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến quyết chiến, quyết thắng, đánh cho quân Mỹ phải rút hết sạch, đánh cho ngụy quân và ngụy quyền sụp đổ hết, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà" 47 .
Ngày 15-7-1969, Níchxơn gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nội dung chủ yếu là nhắc lại "Đề nghị hòa bình 8 điểm" của Mỹ đưa ra tại Hội nghị Pari. Để nêu rõ lập trường kiên quyết của ta, ngày 25-8-1969, trong thư trả lời Tổng thống Mỹ, Người bác bỏ các luận điệu bịp bợm của Níchxơn và khẳng định: "Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự. Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình" 48 .
Đáp lời kêu gọi của Người, quân và dân ta dồn dập tiến công Mỹ và tay sai, giáng những đòn phủ đầu quyết liệt vào chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ - Ngụy. Từ đầu năm đến giữa năm 1969, ta tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 104.000 quân địch, trong đó có 59.000 quân Mỹ và chư hầu. Công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc đang giành được những thắng lợi to lớn. Quân dân cả nước ta đang vươn mạnh đến thắng lợi cuối cùng.
*
* *
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang trên đà thắng lợi và đi vào giai đoạn quyết định, thì hồi 9 giờ 47 phút ngày 2-9-1969, sau một thời gian đau nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài, người thầy kính mến của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta qua đời. Người ra đi trong niềm tiếc thương vô hạn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè trên thế giới. Trái tim Người đã ngừng đập khi Người chưa thấy một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất. Người ra đi một cách thanh thản, vì "không có điều gì phải ân hận". Người "chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa" Tổ quốc, cách mạng và nhân dân ta.
Vĩnh biệt chúng ta, Người để lại bản Di chúc lịch sử. Đó là một tài sản tinh thần vô giá, trong đó chứa đựng biết bao tình cảm sâu sắc và những lời căn dặn đầy tâm huyết. Người bày tỏ ý định đến ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi hoàn toàn "sẽ đi khắp hai miền Nam - Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta". Song, ước mong này không trở thành hiện thực, nhưng ước muốn đó đã thể hiện tình cảm "muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Vĩnh biệt chúng ta, lời căn dặn đầu tiên và cũng là mối quan tâm suốt đời của người là "Trước hết nói về Đảng" do Người sáng lập, tổ chức và rèn luyện.
"Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.
Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...
Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ thành người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên".
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân" 49 .
Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người khẳng định: "Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà". Lời tiên tri đó của Người đã được thực tế kiểm nghiệm sau năm năm, nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách thực hiện điều mong muốn và là huấn thị của Người là "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta, kẻ thù hy vọng tìm thấy ở nhân dân ta sự giảm sút niềm tin và ý chí chiến đấu cho độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Nhưng chúng đã thất vọng. Đáp lại "muôn vàn tình thương" và thực hiện Di chúc của Người, quân và dân ta tăng cường đấu tranh về quân sự, chính trị và ngoại giao, đánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, đặc biệt là đã làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không", đập tan cuộc tập kích chiến lược B.52 của chúng vào cuối năm 1972, buộc chúng phải ký Hiệp định Pari về Việt Nam năm 1973. Thắng lợi của Hiệp định Pari làm đảo lộn so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam và đưa đến thắng lợi rực rỡ trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch cuối cùng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trong ngày vui chào mừng thắng lợi to lớn, trọn vẹn, sau gần 30 năm chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng do Người sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta cảm thấy như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng, lời Bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng, 30 năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông, 30 năm dân chủ cộng hòa, kháng chiến đã thành công. Việt Nam - Hồ Chí Minh! Việt Nam - Hồ Chí Minh!...
Đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc là một thắng lợi có tầm vóc thời đại, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Thắng lợi trọn vẹn này khẳng định đường lối cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã đề ra là hoàn toàn đúng đắn: Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước một lần nữa khẳng định những cống hiến hết sức to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Một trong những cống hiến quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn lịch sử này là sáng tạo đường lối chống Mỹ, cứu nước phù hợp với dân tộc với thời đại: thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền . Đây còn là cống hiến độc đáo vào kho tàng kinh nghiệm của cách mạng thế giới, nhất là phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh được thừa nhận là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.487.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.196.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.13.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 196-197.
5. Biên bản Hội nghị Bộ Chính trị, lưu tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, phông Ban Chấp hành Trung ương khóa II.
6. Xem Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.7, tr. 434.
7. Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Sđd, t.7, tr. 452.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 117.
9, 10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.118-119.
11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 168.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr. 442.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.482.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.485.
15, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.485-486.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.488.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.495-496.
19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.13.
20, 21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.558-559, 524.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.524.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.777-782.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.835-836.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.654.
26. Theo Hồ sơ lưu trữ tại Cục Lưu trữ Trung ương Đảng, danh sách uỷ viên chính thức còn có tên các đồng chí P.V.Đ và P.V.X; danh sách uỷ viên dự khuyết còn có tên các đồng chí P.T.B, V.V.K, L.T.T.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.21, tr.951-952.
28. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.206.
29. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 266.
30, 31. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 545, 544.
32. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 414.
33. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.223.
34. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.543.
35, 36. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.225, 224.
37. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 62-63.
38, 39. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 228.
40. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 229-230.
41. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 108.
42. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 648.
43, 44. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.108.
45. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 332.
46. Vũ Kỳ: Bác Hồ viết Di chúc, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989, tr. 67.
47. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.407.
48, 49. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 479, 488.
50. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.510-511.
Nxb Chính trị quốc gia