BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG
TƯ TƯỞNG, TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TA THẬT SỰ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
(Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập chủ đề năm 2010
Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”)
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Phần I. Đề cương giới thiệu nội dung chuyên đề: Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh” I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TA TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, “LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH”
1. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh tập hợp những bài giảng ở các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925 - 1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng Việt Nam ''Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam''.
“Chủ nghĩa'' mà Người đề cập ở đây là hệ thống lý luận để Đảng Cộng sản lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Đối với đảng cách mạng ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khăng định rằng, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhất quán quan điểm đó.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ví chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Đảng ta như ''trí khôn'' của con người, như ''bàn chỉ nam'' của con tàu đã nói lên vai trò hết sức quan trọng của Đảng trong hoạch định cương lĩnh, đường lối, chủ trương, định ra mục tiêu cần đạt tới, định ra các phương pháp cách mạng cho phù hợp, tổ chức thực hiện có hiệu quả để đạt mục tiêu.
Tính khoa học và cách mạng của lý luận mà một chính đảng đã chọn làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động là điều kiện tiên quyết để làm nên thắng lợi của cách mạng. Chủ nghĩa Lênin (sau này Người quan niệm đầy đủ hơn là chủ nghĩa Mác - Lênin) được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là ''chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất'' vì mang bản chất khoa học và cách mạng, là một thế giới quan và phương pháp luận nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam đúng đắn cho giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng giáo dục toàn Đảng vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội với tinh thần chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Do đó, trong suốt quá trình hoạt động của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng vững trước mọi thử thách, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo đất nước.
Khi khẳng định Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý những vấn đề sau đây:
Một là , phương pháp học tập, nhận thức, nâng cao trình độ lý luận Mác - Lênin phải luôn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, trình độ của từng đối tượng.
Chính bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một mẫu mực tuyệt vời về phương pháp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, phù hợp với trình độ của các giai cấp, tầng lớp nhân dân. Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là hiểu bản chất của các vấn đề, không kinh viện, không biến các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thành các công thức; phải hiểu đúng để hành động đúng.
Hai là, phải vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin cho phù hợp với từng lúc và từng nơi, từng lĩnh vực, từng đối tượng; đề phòng và khắc phục cả giáo điều lẫn xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lênin là ''cái cẩm nang thần kỳ'', và ''mặt trời soi sáng'' con đường cách mạng Việt Nam, là học thuyết sống động, luôn luôn được vận hành và kiểm chứng trong thực tiễn, luôn luôn được nạp thêm năng lượng mới từ cuộc sống và như thế chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ đúng đắn hơn, phong phú hơn và ngày càng được bổ sung, hoàn thiện hơn do thực tiễn và vì thực tiễn. Giáo điều hay cơ hội, xa rời các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin đều biểu hiện sự thoái hoá, biến chất của một đảng cộng sản.
Ba là, Đảng phải luôn luôn học tập, kế thừa những kinh nghiệm tốt của các đảng cộng sản khác, đồng thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn cách mạng để làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận cách mạng mà mỗi đảng cộng sản vận dụng và phát triển vào hoàn cảnh cụ thể của đảng mình. Trong quá trình đó, mỗi đảng lại làm giàu trí tuệ của mình, đồng thời tổng kết từ thực tiễn, từ hoàn cảnh, đặc điểm của đảng mình để bổ sung vào chủ nghĩa Mác - Lênin những vấn đề lý luận mới. Do vậy, việc Đảng ta học tập những kinh nghiệm tốt của các đảng cộng sản trên thế giới cũng tức là tiếp nhận thêm những vấn đề lý luận mới của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong việc vận dụng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính độc lập, tự chủ và có chọn lọc. Trong quá trình hoạt động, nhất là quá trình tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đúc kết nhiều vấn đề mới và đúng đắn, làm giàu thêm những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Bốn là, Đảng ta phải đấu tranh chống những luận điểm cơ hội, xuyên tạc xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã và đang bị các thế lực chống đối, thù địch phản bác; bị những kẻ cơ hội, xét lại xuyên tạc; bị những người vận dụng kém bản lĩnh và kém phẩm chất, năng lực làm sai lệch. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở Đảng ta phải chú trọng bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách nâng cao tầm trí tuệ, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến hành thắng lợi sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam, đấu tranh chống các lực lượng thù địch, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin.
Năm là, Đảng ta phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin để xây dựng khối đoàn kết trong phong trào cộng bản quốc tế.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề này được phản ánh rõ nhất trong bản Di chúc khi Người mong Đảng ta “ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình''.
2. Thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm lãnh đạo, rèn luyện Đảng ta tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng vô sản kiểu mới. Có nhiều nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trong đó có những nguyên tắc cơ bản sau đây:
a) Nguyên tắc tập trung dân chủ
Đối với nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh những nội dung sau:
Một là, phải nhận thức rõ đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng nhất trong tổ chức và sinh hoạt đảng.
Thực hiện tốt hay kém nguyên tắc này có quan hệ đến sự tồn tại, phát triển hay không tồn tại, phát triển của bất cứ tổ chức đảng nào từ Trung ương đến chi bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ tạo thành sức mạnh đoàn kết, thống nhất của Đảng, ''Đảng tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người'',
Hai là, tập trung và dân chủ luôn đi đôi với nhau.
Tập trung trên nền tảng phát huy dân chủ thật sự ở trong Đảng, dân chủ là cơ sở của tập trung, dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung. Đó là hai vế thống nhất chặt chẽ làm thành một nguyên tắc, chúng không đối lập nhau.
Ba là , quán triệt rõ nội dung cơ bản của tập trung.
Đó là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương, tất cả mọi đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của tổ chức đảng. Đảng viên có quyền bảo lưu ý kiến của mình khác với ý kiến của đa số đã quyết nghị, nhưng phải có trách nhiệm thực hiện nghị quyết, không vì thế mà tuyên truyền ý kiến riêng và không phục tùng nghị quyết. Tổ chức đảng phải nghiên cứu xem xét lại ý kiến bảo lưu của cá nhân đảng viên, không định kiến.
Bốn là, quán triệt rõ nội dung cơ bản của dân chủ.
Đó là phải mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng. Có bảo đảm và mở rộng, phát huy dân chủ ở trong Đảng thì mới có dân chủ ngoài xã hội. Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả mọi đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích về tự do dân chủ: ''Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân... Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý''.
Năm là , trong khi thực hiện nguyên tắc này phải đề phòng và chống các biểu hiện lệch lạc.
Đề phòng và chống những biểu hiện của độc đoán chuyên quyền, hách dịch, chụp mũ, trù dập ý kiến của người khác, đồng thời cũng cần đề phòng và chống những biểu hiện của dân chủ ''quá trớn''. Muốn phòng và chống những biểu hiện lệch lạc trên đây khi thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, cần bảo đảm cho tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh và chính đây là điều kiện tiên quyết bảo đảm thắng lợi cho việc thực thi nguyên tắc đó.
b) Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
Có lúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đây là ''chế độ'' lãnh đạo của Đảng, coi tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung, và do đó, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung. Thật ra, giữa tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách có nhiều điểm giống nhau về tính chất trong tổ chức và sinh hoạt đảng, nhưng đây là một nguyên tắc riêng. Đối với nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý một số vấn đề sau đây trong nhận thức và hành động thực tế của cán bộ, đảng viên:
Một là , tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách có quan hệ khăng khít với nhau.
Cũng như nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách là hai vế làm thành một chỉnh thể thống nhất trong nguyên tắc sinh hoạt đảng. Trong quan điểm xác định tư cách của một người cách mạng ở thời kỳ chuẩn bị cả chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 23 điều yêu cầu đối với người cách mạng, trong đó có cả những điều liên quan đến nguyên tắc này, đó là: ''quyết đoán'', “dũng cảm'', “phục tùng đoàn thể''...
Hai là, tập thể lãnh đạo để phát huy trí tuệ của nhiều người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích như sau: ''Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo? Vì một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu, cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn dề. Vì vậy, cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm. Người thì thấy rõ mặt này, người thì trông thấy rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người, thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt, thì vấn đề ấy mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm''. Người lưu ý rằng, lãnh đạo mà không tập thể thì sẽ đưa đến các tệ bao biện, độc đoán, chủ quan, kết quả là hỏng việc.
Ba là, cá nhân phụ trách để nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: ''Vì sao cần phải cá nhân phụ trách? Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách, thì sẽ sinh ra cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong''.
Bốn là, chống dựa dẫm tập thể, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm đồng thời chống độc đoán, cá nhân, coi thường tập thể.
Tập thể lãnh đạo là bảo đảm và phát huy dân chủ trong Đảng nhưng hoàn toàn xa lạ với kiểu dựa dẫm tập thể, không dám quyết đoán trên tinh thần trách nhiệm cao, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước công việc của cá nhân cán bộ, đảng viên đã được tể chức đảng phân công phụ trách. Đồng thời, cá nhân phụ trách cũng hoàn toàn xa lạ với kiểu độc đoán, độc tài, coi thường tập thể tổ chức đảng; không được lợi dụng, vin vào cớ ''cá nhân phụ trách'' để lấn át tập thể, làm thiệt hại lợi ích của tổ chức đảng. Trong công tác xây dựng đảng, trách nhiệm của cá nhân được đề cao. Trên thực tế, tập thể là do nhiều cá nhân hợp thành trong một tổ chức đảng. Mỗi đảng viên là một chiến sĩ phấn đấu cho mục tiêu của Đảng với nhiệm vụ cụ thể của mình, vì vậy, với vai trò tiên phong, đảng viên phải luôn luôn nêu cao trách nhiệm cá nhân trước tập thể tổ chức đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn lưu ý rằng, không phải bất kỳ việc gì, thậm chí những việc nhỏ, một người có thể giải quyết được, cũng đưa ra tập thể bàn bạc; nếu cứ đưa những việc đó ra bàn bạc thì hiểu nguyên tắc tập thể lãnh đạo rất máy móc, kết quả là họp hành mất thì giờ. Cá nhân phụ trách không phải là sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Những điểm trên đây đặc biệt thể hiện rõ trong thời kỳ Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn xã hội, thời kỳ mà nhiều đảng viên có chức, có quyền.
c) Nguyên tắc tự phê bình và phê bình
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng ta, đồng thời là ''vũ khí sắc bén” để làm cho Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Trong việc thực hiện nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến mục đích và phương pháp của nó.
Về mục đích
Người nhấn mạnh, mục đích của tự phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi; tự phê bình và phê bình cũng là để làm cho các tổ chức đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, bất cứ ai cũng đều có khuyết điểm, chỉ khác nhau ở chỗ nhiều hay ít, nặng hay nhẹ, khác nhau ở dạng thái biểu hiện và thái độ xử lý với những khuyết điểm đó. Người cho rằng, Đảng ta bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy, có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng''. Đội ngũ đảng viên của Đảng gồm có những người có tài, có đức. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất đều ở trong Đảng ta... Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay. Trong Đảng ta chưa hoàn toàn tránh khỏi một vài kẻ vu vơ, những việc không chính đáng”. Tự phê bình và phê bình là để các tổ chức Đảng và đảng viên luôn luôn hoàn thiện mình, có chí cầu tiến bộ, vươn lên những giá trị chân, thiện, mỹ.
Mục đích tự phê bình và phê bình trong Đảng là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ và tăng cường đoàn kết nội bộ Đảng. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ''Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết. Đoàn kết, phê bình, tự phê bình thật thà để đi đến đoàn kết hơn nữa''. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: ''Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình''. Nếu sợ phê bình, tức và ''quan liêu hóa'', tức là tự mãn tự túc tức là mèo khen mèo dài đuôi''''. Chính vì tầm quan trọng của tự phê bình và phê bình ở trong Đảng, cho nên trong Di chúc, phần Trước hết nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn lại cho toàn Đảng: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”.
Về phương pháp tự phê bình và phê bình
Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý những nội dung sau đây:
- Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, thậm chí như người ta rửa mặt hằng ngày, ''được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh tật mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”.
- Tự phê bình và phê bình phải thành khẩn. Thường là việc nhận ra khuyết điểm của bản thân mình, của tổ chức mình không dễ dàng, do đó tự phê bình thường khó hơn việc phê bình. Thành khẩn, thành tâm, không được ''giấu bệnh, sợ thuốc'' sẽ giúp cho việc tự phê bình và phê bình khắc phục được điều đó và làm cho việc tự phê bình và phê bình có kết quả tốt. Ở đây, đòi hỏi tinh thần tự giác của mỗi đảng viên.
- Tự phê bình và phê bình phải trung thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới việc không ''đặt điều'', ''không thêm bớt''.
- Tự phê bình và phê bình phải kiên quyết, ''ráo riết”, không nể nang. Theo Người, nếu không kiên quyết thực hiện tự phê bình và phê bình thì cũng giống như giấu giếm bệnh tật trong người, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mạng.
- Tự phê bình và phê bình ''Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau'' như ý bổ sung của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc. Tự phê bình và phê bình phải trên thái độ văn hóa ứng xử giữa con người với con người, hơn nữa ở đây là giữa những đảng viên với nhau - những người đồng chí, cùng nhau phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng.
- Tự phê bình và phê bình phải có tính chất xây dựng, ''không phải để công kích, để nói xấu, để chửi rủa'', “chớ phê bình lung tung không chịu trách nhiệm''. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: ''Có gì cứ bình tĩnh bảo nhau, bàn với nhau. Càng cáu càng khó nghe. Muốn dân chủ tốt, kỷ luật cao, cán bộ phải gương mẫu phê bình và tự phê bình. Ví dụ: Bác và các chú khai hội với nhau, Bác tự phê bình trước thì các chú mới dám phê bình. Các chú có khuyết điểm, Bác phê bình lại. Mục đích phê bình và tự phê bình là để học cái hay, thành cái dở, chứ không phải để nói xấu nhau''; phê bình ''những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho các phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời''.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu lên ba thái độ cần chú ý xử lý trong tự phê bình và phê bình ở trong Đảng.
Một là, đối với những đồng chí giác ngộ chính trị cao thì tự phê bình rất thật thà và kiên quyết sửa chữa khuyết điểm. Khi phê bình người khác, các đồng chí ấy thành khẩn. Đối với những người có khuyết điểm nặng mà không chịu sửa thì các đồng chí ấy đấu tranh không nể nang, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: ''Chúng ta phải học tập tinh thần và tác phong của các đồng chí ấy''.
Hai là, có một số người thì phê bình, giáo dục mấy cũng không chịu sửa chữa khuyết điểm, ''cứ ì ra''. Chủ tích Hồ Chí Minh cho rằng: Đối với các đồng chí này, tổ chức Đảng cần nghiêm khắc mời ra khỏi Đảng để tránh “con sâu làm rầu nồi canh''.
Ba là, một số đồng chí khá đông có thái độ là: đối với người khác thì phê bình rất mạnh, nhưng tự phê bình thì quá yếu; các đồng chí ấy không mạnh dạn công khai tự phê bình, không vui lòng tiếp thu phê bình, không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm của mình, thường tìm ''những khó khăn khách quan'' để biện hộ. Đối với những người khác thì các đồng chí ấy ''rất mácxít'', nhưng đối với bản thân mình thì mắc vào chủ nghĩa tự do, mang ''một ba lô chủ nghĩa cá nhân'', sợ mất thể diện, sợ mất uy tín. Đối với những đồng chí này, phải giáo dục, phải phê bình nghiêm khắc để giúp sửa chữa khuyết điểm.
d) Kỷ luật nghiêm minh, tự giác
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị có tính kỷ luật cao. Sức mạnh của một tổ chức cộng sản và của mỗi đảng viên còn bắt nguồn từ ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm minh, tự giác. Tất cả mọi đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, trước mọi quyết định, nghị quyết của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức bao gồm những người tự nguyện sinh hoạt chung với cương lĩnh thống nhất, cùng chung lý tưởng, mục tiêu hành động để phấn đấu. Đó là những người tự nguyện chung sức phấn đấu cho lý tưởng của Đảng, cho nên tự giác là một nội dung quan trọng trong nguyên tắc xây dựng Đảng, là yêu cầu cần có của tất cả các tổ chức đảng và đảng viên. Tính kỷ luật, nghiêm minh, tự giác đòi hỏi tất cả đảng viên, từ những người có chức vụ cao cho đến những đảng viên không giữ chức vụ gì đều phải gương mẫu trong công tác và trong cuộc sống nói chung. Uy tín của Đảng ta bắt nguồn từ sự gương mẫu của mỗi đảng viên trong việc tự giác tuân thủ kỷ luật của Đảng, của Nhà nước và của các đoàn thể nhân dân mà đảng viên đó tham gia.
e) Đoàn kết, thống nhất trong Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng, của dân tộc không lúc nào ngơi ý thức xây dựng, giữ gìn và phát huy khối đoàn kết ở trong Đảng, đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế. Chính vì thế, Người đã tổng kết:
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.
Mỗi một khối đoàn kết đều có vị trí và vai trò quan trọng đối với tiến trình lịch sử Việt Nam, nhưng khối đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn hết, vì Đảng có vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cách mạng Việt Nam trải qua bao khó khăn, thử thách nhưng vẫn vượt qua và giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử, điều này có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do Đảng ta đã tuân thủ nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng.
Chính vì vậy, trong Di chúc , Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình''.
Để thực hiện nguyên tắc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý: đoàn kết, thống nhất trong Đảng phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ''có lý, có tình''; dựa trên cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, quan điểm của Đảng; nghị quyết của tổ chức đảng các cấp. Đồng thời, muốn đoàn kết, thống nhất, phải thực hành dân chủ rộng rãi ở trong Đảng, thường xuyên và nghiêm chính tự phê bình và phê bình, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các tiêu cực khác để thống nhất ý chí và hành động.
3. Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện tư cách cán bộ, đảng viên
a) Ý nghĩa quan trọng của vấn đề
Một trong những biểu hiện rõ nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam để cho Đảng trở thành Đảng của đạo đức, của văn minh, là Người ''rèn'' đạo đức cán bộ, đảng viên trong thực tế chứ không chỉ dừng lại những quy định trong Điều lệ Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của đạo đức cách mạng và là một yếu tố cơ bản làm thành nhân cách của cán bộ, đảng viên. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trung với nước, trung với Đảng là dám xả thân vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, thậm chí có lúc có thể bị tù đày, bị lên máy chém, bị ra pháp trường. Trong hòa bình xây dựng, những điều kiện ấy không còn, nhưng những thử thách không kém phần nghiệt ngã vẫn đặt ra đối với những cán bộ, đảng viên. Nhiều người không chết bởi mũi tên hòn đạn trong những cuộc chiến đấu khốc liệt để bảo vệ Đảng và Tổ quốc nhưng trong hòa bình xây dựng lại bị ''chết'' bởi những viên đạn bọc đường, sa vào tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu - những căn bệnh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là ''giặc nội xâm'', thứ giặc ở trong lòng, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm.
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, trung với nước, với Đảng là phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của Đảng lên trên hết, trước hết. Cán bộ, đảng viên là người giữ trọng trách trong bộ máy của hệ thống chính trị càng cần có đức tính hy sinh cho lợi ích của Đảng, của Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa; rằng những cán bộ, đảng viên cũng như bao con người khác, cũng có những nhu cầu chính đáng về cuộc sống vật chất và tinh thần, nhưng có khác là ở chỗ khi cần, họ sẵn sàng hy sinh quyền lợi của cá nhân mình, của gia đình mình cho lợi ích tối thượng của Đảng, của Tổ quốc. Trong lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, có lợi ích của cá nhân. Hồ Chí Minh còn nói rằng, vào Đảng là tự nguyện; nếu vào Đảng mà sợ hy sinh thì đừng vào Đảng hoặc khoan hẵng vào, để khi nào rèn được đức tính hy sinh rồi hãy vào.
Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh còn biểu hiện tập trung đức tính cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người đã nêu rất cụ thể khái niệm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để cán bộ, đảng viên học tập và làm theo.
Xây dựng Đảng về mặt đạo đức cách mạng là một nội dung đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, là bước phát triển sáng tạo của Người so với học thuyết của V I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản.
b) Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ
Về vị trí của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán bộ là người đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đến với nhân dân; là người vận động tất cả mọi người thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như chủ trương của các đoàn thể nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng: ''Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng''. Chúng ta cần hiểu rằng, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói cán bộ là dây chuyền của bộ máy thì không có nghĩa là xếp cán bộ vào vị trí trung gian, mà cán bộ luôn luôn ở trong phong trào cách mạng của đất nước, cán bộ là lực lượng trung tâm của phong trào cách mạng, luôn luôn đi tiên phong lôi cuốn cả phong trào cách mạng phát triển.
Về vai trò của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Quần chúng nhân dân là những người làm nên lịch sử. Nhưng, mặt khác, những cán bộ lãnh đạo, quản lý lại là đầu tàu, có tác dụng hướng dẫn, tập hợp vận động nhân dân để hành động đạt mục tiêu của cách mạng. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta. Luận điểm khái quát nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của cán bộ là: cán bộ là người lãnh đạo, là đày tớ thật trung thành của nhân dân.
c) Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của công tác cán bộ của Đảng
Trong quá trình xây dựng Đảng, công tác cán bộ chiếm vị trí quan trọng hàng đầu có vai trò quyết định thành công tới toàn bộ công tác xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng. Điều này thể hiện rất rõ trong thực tế hoạt động của Đảng ta từ khi ra đời đến nay. Khi nào, nơi nào làm tốt công tác cán bộ thì khi đó, nơi đó cách mạng sẽ có nhiều thuận lợi và giành được thắng lợi, và ngược lại. Với quan điểm đó, cả cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến công tác cán bộ, từ đánh giá, lựa chọn, huấn luyện, thử thách, rèn luyện, sử dụng, đãi ngộ... Sau năm 1920, khi đã trở thành người cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tích cực tìm kiếm những thanh niên Việt Nam yêu nước để đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện họ trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; gửi những người ưu tú hoặc có nhiều triển vọng vào đào tạo tại các trường của Trung Quốc và của Quốc tế Cộng sản. Từ khi thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú ý huấn luyện và xây dựng lực lượng cán bộ. Nhờ đó, Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
d) Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên
Yêu cầu về tư cách
Trong hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ, đảng viên, vấn đề tư cách được Người nhấn rất mạnh. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927), ở trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã nêu ra 23 điều về Tư cách của một người kách mệnh. Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều dịp đề cập với nội dung rất phong phú về vấn đề này, nhưng có ba nội dung chủ yếu có tính bao quát toàn bộ các mặt của nó mà Người hay nêu đó là:
Một là : Suốt đời phấn đấu hy sinh cho lý tưởng của Đảng.
Lý tưởng của Đảng, của cán bộ, đảng viên là phấn đấu cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc rèn luyện tư cách này phải được diễn ra trong suốt cả cuộc đời của cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ cách mạng trong quá trình hoạt động của mình, có lúc rất kiên trung với cách mạng nhưng do không chú ý rèn luyện hằng ngày, cho nên đã phai lạt, thậm chí phản bội lại những lý tưởng của Đảng, làm hại sự nghiệp cách mạng.
Hai là : Cán bộ, đảng viên phải đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và lên trước hết.
Trong quan điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ, đảng viên phải gắn vận mệnh của mình với vận mệnh của Đảng của Tổ quốc. Người cho rằng: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hoá, chính trị của nhân dân. Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng''. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra quan điểm có tính nguyên tắc: ''lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài''.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng lợi ích cá nhân, miễn là lợi ích cá nhân của cán bộ phù hợp với lợi ích của Đảng, của cách mạng. Cán bộ, đảng viên phải có đức hy sinh, phải chịu khép mình vào kỷ luật của Đảng. Trong cuộc sống, nhiều khi lợi ích cá nhân phù hợp với lợi ích của Đảng, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: ''Nếu gặp khi lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng. Khi cần đến tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng''; đảng viên và cán bộ ''phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết... Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là “tính Đảng””. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, vì kém tính Đảng mà cán bộ, đảng viên thường hay mắc phải 12 căn bệnh sau đây:
Bệnh ba hoa, Bệnh chủ quan,
Bệnh địa phương, Bệnh hình thức,
Bệnh ham danh vị, Bệnh ích kỷ,
Bệnh thiếu kỷ luật, Bệnh hủ hoá,
Bệnh cẩu thả (gặp sao hay vậy), Bệnh thiếu ngăn nắp,
Bệnh xa quần chúng, Bệnh lười biếng.
Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ''Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sĩ xung phong. Đó là do sự ''tự giác”, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sĩ xung phong. Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo''.
Ba là : Cán bộ phải có một đời tư trong sáng, phải là một tấm gương sáng trong cuộc sống.
Điểm nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân khác ở trong nước và trên thế giới là toàn bộ cuộc đời của Người là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò to lớn của đạo đức cách mạng, trong đó có sự “trong sáng” về ''đời tư”, khi Người nhìn nhận về tấm gương của V.I.Lênin. Năm 1924, khi V.I.Lênin qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong một bài báo như sau: ''Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi''. 31 năm sau, ngày 13-7 - 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Việt Nam sang Liên Xô, đến thăm nơi làm việc của V.I.Lênin trong Điện Cremli (Mátxcơva). Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi vào sổ cảm tưởng cửa Nhà lưu niệm: ''Lênin, người thầy vĩ đại của cách mệnh vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Tinh thần Lênin muôn đời bất diệt”.
Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, đảng viên tốt phải có 5 điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Nếu cán bộ, đảng viên không có một đời tư trong sáng thì sẽ không thuyết phục, vận động được nhân dân trong các phong trào cách mạng. Cán bộ, đảng viên, ngoài việc phải hoàn thành tốt công việc chung của Đảng đã được phân công, lại phải còn là một thành viên tốt của gia đình, là một người công dân tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư và ngoài xã hội, sống cuộc sống chan hoà, gần gũi với mọi người chung quanh trong cùng bản làng, phun, sóc, thôn, xóm...
Yêu cầu về phẩm chất, năng lực
- Về phẩm chất
+ Cán bộ, đảng viên phải có đạo đức cách mạng trong sáng.
Đây là yêu cầu ''gốc'', ''nguồn'' đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm của mình về đạo đức cách mạng, cho rằng đạo đức như là gốc cây, như là nguồn của sông, như là cái căn bản của người cách mạng: ''Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì đù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?''. Đây cũng chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích rất rõ mối quan hệ giữa Đức và Tài và cho rằng, có tài mà không có đức thì sẽ làm hỏng công việc, có hại cho cách mạng; có đức mà không có tài thì như ông bụt ngồi đấy chẳng giúp ích được gì; trong mỗi con người đòi hỏi vừa phải có đức, vừa phải có tài như một chỉnh thể không thể tách rời, trong đó đức là gốc. Đạo đức của cán bộ, đảng viên, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây: có lòng nhân ái; trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liệm, chính, chí công vô tư; thấm đượm tinh thần quốc tế chân chính... Những phẩm chất đó làm thành một thể thống nhất về yêu cầu đạo đức cần có của cán bổ, đảng viên. Cái gốc, cái nguồn, cái căn bản về đạo đức của cán bộ, đảng viên đó, như Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm là không phải ''từ trên trời sa xuống”, mà do phấn đấu, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mới có, ''như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong''.
+ Cán bộ, đảng viên phải tuyệt đối trung thành với cách mạng.
Không ít lần, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý rằng: ''Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài'', cán bộ, đảng viên không phải là người ''làm quan cách mạng'', không phải như dưới thời thực dân - phong kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ, đảng viên để ''đè đầu cưỡi cổ'' dân chúng. Cán bộ, đảng viên phải tận tụy với sự nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, ''phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Trung thành ở đây đòi hỏi cán bộ, đảng viên trước hết phải hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động; ''vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi''; phải luôn luôn có thức và hành động bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc. Trung thành với cách mạng là phải hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, là việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ, cũng gắng sức làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ, cũng hết sức tránh.
Về năng lực
+ Cán bộ, đảng viên phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.
Muốn thế, phải ''chuyên'' (với nghĩa ''tài'' trong quan hệ ''đức - tài'' như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu). Phải có phẩm chất tốt, lại phải có trí tuệ minh mẫn, sáng suốt, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi. Không thể có quan niệm đánh giá một cán bộ, đảng viên nào đó là tốt khi chỉ thấy người đó hiền lành (Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là “như ông bụt ngồi đó''), nhưng lại không có năng lực lãnh đạo và tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của tổ chức mình.
Để đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể nhân dân biến thành hiện thực thì ngoài yêu cầu về việc đuờng lối, chủ trương, chính sách, quyết định đó phải đúng đắn, còn có việc phải tổ chức lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ra sức thực hiện thắng lợi . Nếu không, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết định của đoàn thể nhân dân chỉ nằm trên giấy. Muốn thực hiện được điều đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có năng lực tốt (có quyết tâm cao, có phương pháp phù hợp, có kỹ năng thành thục trong việc lãnh đạo, vận động nhân dân trong các phong trào cách mạng).
+ Cán bộ, đảng viên phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.
Đây là yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là trong thời kỳ Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền. Mối quan hệ Đảng - Dân là mối quan hệ máu thịt, nếu cán bộ, đảng viên xa dân, vi phân quyền làm chủ của nhân dân thì Đảng ta sẽ bị thoái hoá, biến chất.
+ Cán bộ phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt.
Học suốt đời, học không biết chán, dạy không biết mỏi (Nho giáo); Học, học nữa và học mãi (V.I.Lênin)... là những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú ý vận dụng vào trong cuộc sống của chính bản thân mình và trong giáo dục, rèn luyện cho cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Người cho rằng, ngày nay không thể lãnh đạo chung chung được nữa; rằng, chỉ có lòng nhiệt tình không thôi thì chưa đủ, mà còn phải có tri thức nữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời chăm chỉ học tập, tuổi cao nhưng vẫn còn học; học ở nhà trường, học trong cuộc sống. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh học không phải là để có bằng cấp, để thăng chức, mà Người đưa ra quan điểm được ghi trong Sổ Vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương khi đến thăm Trường vào tháng 9 năm 1949:
Học để làm việc,
làm người,
làm cán bộ.
Học để phụng sự Đoàn thể,
''giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại''.
Muốn đạt mục đích, thì phải
cần, kiệm, liệm, chính,
chí công, vô tư.
Người còn nhấn mạnh rằng, học phải đi đôi với hành, lý luận phải đi đôi với thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh không ít lần phê bình một cách nghiêm khắc bệnh lười học tập, ngại học tập của nhiều cán bộ, đảng viên.
+ Cán bộ, đảng viên phải có phong cách tốt.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn có phong cách công tác tốt, phải phòng và chống tác phong chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái, ham chuộng hình thức, phô trương cho oai, làm đại khái, qua loa. Phải sâu sát, tỉ mỉ; nắm việc lớn, phải giải quyết bắt đầu từ những việc cơ bản, không cận thị (cận thị là chỉ nhìn gần mà không nhìn xa trông rộng được), phải có đầu óc quan sát; phải chân đi, miệng nói, tay làm, không như thế thì “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo công văn'' nhưng công việc không chạy. Người nhấn mạnh tới các vấn đề chủ yếu: Sửa cách lãnh đạo về công tác cán bộ; Biết chọn trình tự ưu tiên công việc; Thường xuyên tổng kết công tác; Phải luôn luôn có sáng kiến; Sâu sát, gần gũi nhân dân, có tinh thần phụ trách trước dân; Phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ; Có lãnh đạo chung, nhưng có chỉ đạo điểm.
Phong cách công tác tốt của cán bộ, đảng viên trước hết phải có tinh thần trách nhiệm cao khi thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Bất kể làm một việc gì mà có trách nhiệm cao thì cán bộ, đảng viên đều có khả năng tạo ra hiệu quả công tác tốt. Nêu cao trách nhiệm trước Đảng, trước dân, do đó, là một phong cách cơ bản, chủ yếu nhất và quan trọng nhất, có tính chất tiên quyết trong việc rèn luyện phong cách công tác của cán bộ, đảng viên. Nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác sẽ làm cho cán bộ biết sắp xếp công việc một cách khoa học, hợp lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: bất kỳ việc gì, ''phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc''. Quan điểm sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy cách ngày nay trên 60 năm nhưng vẫn còn nguyên tính thời sự: ''Bất kỳ địa phương nào, cơ quan nào, thường trong một lúc có nhiều công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp''.
Tính ngăn nắp, gọn gàng đi liền với nhìn xa trông rộng, giúp cán bộ, đảng viên chủ động trong công việc, không ôm đồm, không bỏ sót việc và công việc sẽ có hiệu quả từng bước một để giành thắng lợi trong tổng thể. Muốn thế, phải đề ra được kế hoạch công tác của cá nhân phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với từng cơ quan, địa phương, đơn vị. Trên cái nền cơ bản của Đảng cũng như của cả nước, mỗi cơ quan, địa phương, mỗi đơn vị, mỗi cá nhân lại có yêu cầu riêng. Kế hoạch của mỗi cá nhân phải phục tùng và phù hợp với kế hoạch chung của đơn vị. Một kế hoạch được còi là tốt khi kế hoạch đó phản ánh được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị là đơn vị được giao, kế hoạch đó phải có bước đi, tiến độ triển khai phù hợp, sát thực, chắc chắn, khả thi.
Nêu cao tinh thần trách nhiệm sẽ làm cho cán bộ, đảng viên có phong cách lãnh đạo tốt trong việc kết hợp lãnh đạo chung với chỉ đạo riêng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu thí dụ cụ thể: trong công tác chỉnh đốn Đảng, ngoài những kế hoạch chung, mỗi cơ quan và mỗi cán bộ, đảng viên phải chọn vài ba bộ phận trong cơ quan, đơn vị để nghiên cứu rõ ràng và xem xét kỹ lưỡng sự phát triển trong những bộ phận đó. Đồng thời, trong vài ba bộ phận đó, cán bộ lãnh đạo lại chọn năm ba người cán bộ kiểu mẫu, nghiên cứu kỹ càng lịch sử của họ, kinh nghiệm, tư tưởng, tính nết của họ, sự học tập và công tác của họ để giúp họ giải quyết công việc thực tế. Nêu cao tinh thần trách nhiệm sẽ làm cho cán bộ, đảng viên có quyết tâm thực hiện tốt kế hoạch công tác. Tinh thần quyết tâm trong việc thực hiện kế hoạch công tác không phải là chủ quan, duy ý chí. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu kế hoạch 10 phần thì quyết tâm thực hiện kế hoạch phải 20 phần. Với quyết tâm làm việc thì cán bộ, đảng viên sẽ có sức mạnh vượt qua bao khó khăn, trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho.
Mặt khác, phong cách công tác của cán bộ , đảng viên phải luôn luôn được đổi mới trên cơ sở có nhiều sáng kiến, thường xuyên tổng kết công tác, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ. Đề cập vấn đề sáng kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Sáng kiến là kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực''. Người quan niệm: sáng kiến không có gì là cao xa, mà là ''bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đố sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến'' . Trong thực tế công tác, cán bộ, đảng viên nào hay có sáng kiến thì chính đó là người luôn luôn năng động, hăng hái, bất kể trong việc gì, to hay nhỏ. Người đó chính là đầu tàu của phong trào thi đua yêu nước, thi đua một cách thiết thực, có hiệu quả, không chạy theo thành tích, không ''đánh trống bỏ dùi'', không ''có ít xuýt ra nhiều''.
Sáng kiến là hệ quả của phong cách công tác của cán bộ, đảng viên chú trọng đến việc thường xuyên tổng kết công tác. Có tổng kết công tác thì mới thấy rõ những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm của bản thân và của tổ chức Đảng để tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Đó là một quá trình được tiến hành thường xuyên và đó là quá trình phủ định biện chứng, làm cho cá nhân cán bộ, đảng viên cũng như tổ chức đảng lớn mạnh thêm, tự hoàn thiện mình trên con đường phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ rang rồi kết luận Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng''.
Phong cách công tác của cán bộ, đảng viên không tách rời việc chú trọng kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ công việc. Thật có lý khi trong công tác xây dựng Đảng, nhiều người cho rằng, nếu lãnh đạo mà không kiểm tra, kiểm soát thì coi như không lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ''Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát''. Công tác kiểm soát, nếu được thực hiện tốt, thì sẽ biết được ưu điểm, khuyết điểm của từng cá nhân và tập thể, ''Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết''. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiểm soát có hai cách: từ trên uống và từ dưới lên, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.
đ) Làm tốt công tác cán bộ
- Phải hiểu và đánh giá đúng cán bộ để lựa chọn và sử dụng đúng cán bộ.
Đây là yêu cầu xuất phát để tiến hành các mặt khác của công tác cán bộ. Nếu không đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ thì không thể đề ra chính sách cán bộ một cách đúng đắn được. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cứ mỗi lần xem xét lại cán bộ, một mặt sẽ tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác thì những người yếu kém sẽ bị lòi ra.
Hiểu, đánh giá đúng cán bộ và tình hình công tác cán bộ phải có những yêu cầu, chuẩn mực phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng lĩnh vực, đánh giá một cách hoàn toàn công minh, khách quan. Thông thường, việc đánh giá thực trạng công tác cán bộ là rất khó. Đồng thời, trong công tác cán bộ, việc đánh giá cán bộ là một trong những điểm khó hơn cả. Chính vì đánh giá đúng tình hình và đánh giá đúng phẩm chất, năng lực của cán bộ, biết được chỗ mạnh, chỗ yếu của cán bộ, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng cán bộ rất đúng để làm lợi cho cách mạng, nhất là những lúc cách mạng gặp nhiều thử thách.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn đúng cán bộ được thể hiện chủ yếu trong bốn nội dung sau đây:
Một là, những người đã tỏ ra rất trung thành và hăng hái trong công việc, trong lúc đấu tranh.
Hai là, những người liên lạc mật thiết với dân chúng, hiểu biết dân chúng, luôn luôn chú ý đến lợi ích của dân chúng.
Ba là, những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn.
Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo. Người lãnh đạo đúng đắn là người khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo, khi thi hành các nghị quyết thì kiên quyết, gan góc, không sợ khó khăn.
Bốn là, những người luôn luôn giữ đúng kỷ luật. Người làm công tác cán bộ khi đánh giá, xem xét cán bộ phải ''tự biết mình'', tức là biết được ''sự phải trái của mình'', sửa chữa những khuyết điểm của mình, để mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng'', như thế mới không phạm những căn bệnh: 1. Tự cao tự đại; 2. Ưa người ta nịnh mình; 3. Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người; 4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà ắp vào tất cả mọi người khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu phạm một trong bốn bệnh đó thì người làm công tác cán bộ cũng như mắt đã mang kính có màu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, xem xét một cán bộ không nên chủ xem xét mặt bên ngoài, xem xét qua một việc, mà phải xem xét kỹ toàn bộ công việc của cán bộ đó. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Mình là: trong thế giới, cái gì cũng biến hoá, tư tưởng con người cũng vậy, cho nên xem xét cán bộ phải toàn diện, xem xét cả một quá trình công tác của cán bộ. Có người trước đây có sai lầm nhưng nay đã sửa chữa được, có người nay không có sai lầm nhưng sau lại mắc sai lầm, có người trước đây đi theo cách mạng nay lại phản cách mạng, ngược lại có người trước đây không theo cách mạng nay lại tham gia cách mạng... nghĩa là quá khứ, hiện tại, tương lai của mọi người không phải luôn luôn giống nhau. Do đó, xem xét cán bộ phải xem xét cả lịch sử của họ, toàn bộ công việc của họ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên quan điểm: ''Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt. Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt. Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ''.
- Phải “khéo dùng cán bộ ”, ''dùng người đúng chỗ, đúng việc''.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: phải ''dùng người đúng chỗ, đúng việc''. Người cho rằng: dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to nhỏ, thẳng, cong đều tùy chỗ mà dùng được. Người phê bình: thường chúng ta không biết tùy tài mà dùng người, thí dụ: thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao, thành thử hai người đều lúng túng, nếu biết tùy tài mà dùng người thì hai người đều thành công.
Chủ tịch Hồ Chí Minh phê bình nghiêm khắc tệ ''kéo bè kéo cánh'' trong công tác cán bộ. Tệ này phát sinh từ bệnh bè phái, ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau; ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là người xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách gièm pha, nói xấu, tìm cách dìm người đó xuống. Khuyết điểm này, như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra, nó rất tai hại, nó làm Đảng bớt mất nhân tài và không thực hành được đầy đủ chính sách của mình, làm hại sự thống nhất, làm mất sự thân ái, đoàn kết đồng chí, gây ra những mối nghi ngờ...
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra quan điểm toàn diện khi xem xét để đề bạt, bổ nhiệm cán bộ: khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gụi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không, lại phải xem người ấy phù hợp với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm vào những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán những bệnh sau đây: 1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, vì cho họ tốt hơn người bên ngoài; 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình mà chán ghét những người chính trực; 3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm dùng cán bộ đúng với 5 nội dung:
Một là , phải có độ lượng thì mới có thể có thái độ và tinh thần chí công vô tư đối với cán bộ, không có thành kiến, khiến cán bộ không bị bỏ rơi.
Hai là, phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gụi với những người mà mình không ưa.
Ba là , phải có tính chịu khó dạy bảo mới có thể nâng đỡ những cán bộ còn kém, giúp cho họ tiến bộ.
Bốn là, phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà cách xa cán bộ tốt.
Năm là, phải có thái độ vui vẻ, thân mật, cán bộ mới vui lòng gần gụi mình.
- Phải chống chủ nghĩa biệt phái, cục bộ, địa phương hẹp hòi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh hay nhấn mạnh đến việc chống cánh hẩu, họ hàng, thân quen trong công tác cán bộ nói chung cũng như trong chính sách cán bộ nói riêng. Người phê bình một cách nghiêm khắc người làm công tác cán bộ tìm cách lợi dụng chức quyền để đưa anh em, họ hàng, bạn bè thân quen vào chức này chức nọ. Người chỉ rõ tác hại của bệnh hẹp hòi, bệnh địa phương cục bộ. Theo Người, những bệnh chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, v.v. đều do bệnh hẹp hòi mà ra.
Trong vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đề cập việc kết hợp cán bộ tại chỗ với cán bộ do cấp trên điều về. Người phê bình do hẹp hòi mà cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương không đoàn kết chặt chẽ với nhau. Người cho rằng, phải chữa cho ''tiệt nọc'' bệnh hẹp hòi, khắc phục kèn cựa, mất đoàn kết giữa cán bộ trên điều về và cán bộ tại chỗ Người viết: ''Phải biết rằng: chỉ có hai hạng cán bộ đó đoàn kết chặt chẽ và chỉ có cán bộ địa phương ngày càng thêm nhiều, thì nền tảng của Đảng mới phát triển và vững vàng. Cán bộ phái đến, trình độ thường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn. Nhưng cán bộ địa phương lại biết rõ nhân dân, quen thuộc công việc hơn. Hai hạng cán bộ phải giúp đỡ nhau, bồi đắp nhau, thì công việc mới chạy”. Theo quan điểm của Người, tốt nhất là kiếm cán bộ tại chỗ, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ tại chỗ; song nếu không có hoặc thiếu thì điều động cán bộ ở nơi khác về. Đây chính là thực hiện quan điểm coi Đảng ta là một cơ thể sống, đội ngũ cán bộ là một đội ngũ thống nhất, cán bộ có thể và cần phải được bố trí công tác ở bất cứ địa bàn nào miễn là người cán bộ đó có đủ dực và tài, có tính đến đặc điểm, yêu cầu của từng vùng, từng lĩnh vực.
Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa cán bộ mới và cán bộ cũ cũng được Chủ tịch Hồ Chỉ Minh đề cập nhiều lần trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Người chỉ rõ tính tất yếu, tự nhiên, hợp quy luật của vấn đề này khi cho rằng: ''số cán bộ cũ có ít, không đủ cho Đảng dùng. Đồng thời, theo luật tự nhiên, già thì phải yếu, yếu thì phải chết. Nếu không có cán bộ mới thế vào, thì ai gánh vác công việc của Đảng”. Người phân tích rằng, cán bộ mới ''vì công tác chưa lâu, kinh nghiệm còn ít, có nhiều khuyết điểm. Nhưng họ lại có những ưu điểm hơn cán bộ cũ: họ nhanh nhẹn hơn, thường giàu sáng kiến hơn''. Do đó, Người chỉ rõ: ''Cán bộ cũ phải hoan nghênh, dạy bảo, dìu dắt, yêu mến cán bộ mới... hai bên phải tôn trọng nhau, giúp đỡ nhau, học lẫn nhau, đoàn kết chặt chẽ với nhau. Cán bộ cũ thường giữ địa vị lãnh đạo. Vì vậy, nếu từ nay, quan hệ giữa hai hạng cán bộ ấy không ổn thoả, thì cán bộ cũ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Như thế mới chữa khỏi bệnh hẹp hòi''.
- Phải chú trọng đến công tác đề bạt cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý việc phải xem xét thật kỹ trước khi đề bạt cán bộ, sau khi đã đề bạt rồi thì phải theo dõi, giúp đỡ, kiểm tra cán bộ đó, nếu không như thế thì hỏng việc. Người cho rằng, cất nhắc cán bộ không nên làm theo lối giã gạo, nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ, khi cất nhắc rồi thì không giúp đỡ họ, khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên; một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm quý trọng cán bộ khi cho rằng: ''Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như nggười làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta''.
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Trong công tác cán bộ, phải chú ý việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đây là công việc gốc của Đảng khi đặt trong mối quan hệ với nội dung vai trò của cán bộ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là một công việc quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên. Những điểm đáng chú ý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu là:
+ Học phải thiết thực, ''Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào'';
+ Học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tế;
+ Sắp xếp thời gian và bài học phải hợp lý;
+ Tuyệt đối chống bệnh chủ quan, hẹp hòi, ba hoa;
+ Các tài liệu huấn luyện phải do cơ quan lãnh đạo xét kỹ;
+ Những giờ học tập đều tính như những giờ làm việc;
+ Khi cất nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác khác mà định;
+ Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ;
+ Những người lãnh đạo phải tham gia giảng dạy các lớp đào tạo bồi dưỡng cán bộ của Đảng;
+ Đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải có kinh phí tương xứng với yêu cầu, ''không nên bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong việc huấn luyện''.
4. Tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và dân
a) Cơ sở lý luận và thực tiễn
Đảng ta sinh ra từ trong lòng dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong bài báo Dân vận (tháng 10-1949) rằng: ''Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên'' (Chữ Đoàn thể viết hoa năm 1949 được hiểu là Đảng Cộng sản Đông Dương lúc Đảng hoạt động bí mật). Sự ra đời của Đảng chính là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Như vậy, Đảng ta là một bộ phận của toàn thể dân tộc Việt Nam. Vấn đề mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản - Giai cấp công nhân - Nhân dân, Dân tộc Việt Nam là mối quan hệ ''3 trong 1'', mỗi thành tố đều nằm trong một cái chung không thể tách rời. Song mỗi thành tố cũng có chức năng, nhiệm vụ, có ''sứ mệnh'' riêng. Tất cả những thành tố đó cũng như sự hoạt động, tương tác của chúng đều có tính hướng đích: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Như vậy, yêu cầu của tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân xuất phát từ bản chất của vấn đề mối quan hệ bền chặt vốn có, là yêu cầu tự nhiên của Đảng ta trong quy luật ra đời và phát triển của Đảng.
Nhân dân có vai trò cực kỳ to lớn trong đời sống chính trị - xã hội. Có thể nói rằng, quyền lực của dân đứng ở vị trí tối thượng trong hệ thống quyền lực của đất nước. Tất cả quyền lực trong xã hội Việt Nam đều được cấu tạo trên cơ sở quyền lực của nhân dân và đều xuất phát từ vị trí, vai trò của nhân dân. Tất cả các tổ chức của Đảng ta, từ cấp cao nhất cho đến cấp cơ sở, đều hoạt động trên cái nền nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống bộ máy Đảng, cũng như các chi bộ - các tế bào của Đảng - là tổ chức gần dân nhất, nằm trong nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Dân là gốc, sức mạnh của Đảng ta bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân. Vì thế, các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên phải chăm lo xây dựng và tăng cường mối quan hệ gắn bó với dân. Đây là yêu cầu đối với mọi tổ chức Đảng, mọi cán bộ, đảng viên ở tất cả các thời kỳ cách mạng, nhưng trong thời kỳ Đảng cầm quyền thì yêu cầu này càng đặc biệt nổi rõ hơn.
b) Những yêu cầu cụ thể của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tăng cường mối quan hệ giũa Đảng với nhân dân
Một là, Đảng phải thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; kiên quyết khắc phục bệnh quan liêu trong tổ chức Đảng và đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: ''Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên... Dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng''. Do vậy, Người cho rằng: ''chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng.. mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng. Mà muốn hiểu biết, học hỏi dân chúng, thì ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời''.
Hai là, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên bằng hành động thực tế của mình phải làm cho dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục; đừng ''dán lên trán hai chữ cộng sản'' để đè đầu cưỡi cổ nhân dân; phải yêu dân, kính dân; phải việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù thỏ cũng cố tránh; phải khổ trước thiên hạ và vui sau thiên hạ; phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói trong buổi lễ ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951 rằng: Đảng ''sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân''.
Ngay cả khi đảm nhận chức vụ Chủ tịch Chính phủ đầu năm 1946 (sau này là Chủ tịch nước), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng tự nhận mình được sự uỷ thác của nhân dân để phục vụ cho nhân dân: ''Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một căn nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi''.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc nhận sự uỷ thác của dân, vâng mệnh lệnh của quốc dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân tức là quan điểm làm đày tớ, làm công bộc, làm trâu ngựa cho dân. Đó cũng là nhân cách của nhà cách mạng, nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh, đồng thời là một thông điệp cực kỳ quan trọng mà Người gửi tới tất cả mọi đảng viên.
Ba là , Đảng phải nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với dân.
Trách nhiệm của Đảng đối với dân, nói một cách cô đọng nhất, là phải hiếu với dân. Cán bộ, đảng viên nào mắc phải những khuyết điểm, sai lầm như quan liêu, xa dân, hách dịch đối với dân, coi thường nhân dân, không chú trọng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, không chăm lo đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì người đó không xứng đáng với tư cách cán bộ, đảng viên. Cũng chính vì vậy, trong Di chúc , Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn Đảng ta: ''Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân''.
Vấn đề hiếu với dân đặt ra yêu cầu Đảng phải thật sự gần dân, hiểu dân, vì dân và để thực hiện điều đó. Đảng phải làm tốt công tác dân vận. Nếu Đảng xa dân thì Đảng sẽ đứng trước nguy cơ thoái hoá, biến chất, thậm chí dẫn đến tan rã. Phải tích cực hơn nữa trong việc chống quan liêu. Trước hết là tránh mắc khuyết điểm xem khinh công tác dân vận. Vì có tư tưởng coi khinh công tác dân vận cho nên, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra, là ''thường cử những cán bộ kém'' phụ trách công tác dân vận. Người cũng lưu ý chống căn bệnh khoán trắng công tác dân vận cho một ban và cho một vài người. Người cho rằng: ''Đó là sai lầm rất to, rất có hại''. Khi đã khoán trắng thì ''vận được thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận''. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: ''Những người phụ trách dân vận cần phải có óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc. Bệnh quan liêu là bệnh thường hay mắc phải trong điều kiện Đảng cầm quyền mà cán bộ, đảng viên không chịu rèn luyện phong cách công tác cũng như nâng cao tinh thần trách nhiệm.
Bốn là, thường xuyên vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng.
Dân là chủ và dân làm chủ, dân có lợi ích và đồng thời phải có trách nhiệm (tức là quyền lợi và nghĩa vụ của dân đi đôi với trách nhiệm của dân đối với Đảng). Cả hai vế dân là chủ và dân làm chủ đều quan trọng như nhau, chúng làm thành một thể thống nhất nên và chủ là nói về vị thế của dân, còn dân làm chủ là nói về trách nhiệm của dân. Dân là người uỷ quyền cho Đảng, vì thế dân có trách nhiệm xây dựng Đảng bằng nhiều hình thức: bằng việc tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng; bằng việc đóng góp nhiều ý kiến cho các tổ chức Đảng và cho cán bộ, đảng viên với tinh thần xây dựng; bằng việc giới thiệu những người ưu tú để Đảng xem xét kết nạp vào Đảng; bằng việc kiểm tra, giám sát tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên...
Trong quan hệ với dân, cán bộ, đảng viên phải sâu sát, tỉ mỉ, có phương pháp tốt. Liên quan đến yêu cầu trên đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: 1. Phải giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình; 2. Sau đó, phải bàn bạc với dân để hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân; 3. Đặt ra kế hoạch thiết thực; 4, Tổ chức toàn dân thực hiện kế hoạch; 5. Trong quá trình thực hiện kế hoạch, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân giải quyết những việc khó khăn; 6. Khi thực hiện xong, phải cùng với dân xem xét lại công việc đã làm, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng. Như vậy, phải nói cho dân hiểu, phải hiểu dân nói và nói đi đôi với làm, làm những điều ích quốc, lợi dân. 5. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Bằng hoạt động của mình trong sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhân dân tin yêu vì Đảng ta ''là đạo đức, và văn minh'', tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Vai trò đó có được là do năng lực lãnh đạo, tầm trí tuệ, sức chiến đấu của Đảng luôn luôn được nâng cao, do sự phấn đấu bền bỉ của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng Đảng ta sẽ mất vai trò lãnh đạo toàn xã hội và sẽ không được nhân dân tín nhiệm nữa nếu Đảng yếu kém, không trong sạch, vững mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: ''Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân''. Do đó, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân Đảng là một yêu cầu của chính sự nghiệp cách mạng trong tất cả các thời kỳ, để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, để Đảng xứng đáng là Đảng của đạo đức văn minh. Đây là quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là sự quan tâm hằng ngày của Người nhằm giáo dục cho toàn Đảng tinh thần luôn luôn rèn luyện, phấn đấu vì sự tin yêu của nhân dân.
Trước lúc qua đời, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta một trong những việc phải làm sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước thắng lợi là: ''Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi''.
Sự cầm quyền của Đảng ta là do nhân dân giao phó cho trách nhiệm cầm quyền đó. Cho nên, Đảng phải luôn luôn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn càng phải được chú ý, trở thành quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng chủ yếu trên những nội dung sau đây.
- Tăng cường công tác xây dựng Đảng cả về chính trị , tư tưởng, tổ chức; phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội cũng như đối với xã hội nói chung; đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên... làm cho Đảng luôn luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam.
- Đảng phải luôn chú ý đề phòng và khắc phục những biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất, luôn giữ gìn Đảng thật trong sạch, vững mạnh. Đảng không sợ sai lầm, khuyết điểm mà vấn đề quan trọng nhất đối với sự tồn tại và phát triển của Đảng là nhận biết sai lầm, khuyết điểm để ra sức sửa chữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm trong tự đổi mới và chỉnh đốn Đảng khi đứng trước những khuyết điểm: một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính''.
- Giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên để đội ngũ này luôn luôn toàn tâm, toàn ý phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải là những người vừa có đức, vừa có tài, như Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy lời của Mạnh Tử để khuyên cán bộ, đảng viên: phải là những người ''Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục). Cán bộ, đảng viên là những người luôn luôn giác ngộ cách mạng, trung thành với lý tưởng của Đảng, đi tiên phong trong phong trào cách mạng.
- Đảng phải vươn lên đáp ứng kịp yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế. Do đó, Đảng phải chú trọng nâng cao tầm trí tuệ, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình.
II. NHỮNG BIỂU HIỆN NỔI BẬT CỦA TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG TA TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, ''LÀ ĐẠO ĐỨC, LÀ VĂN MINH''
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng Đảng
Trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo đến công tác xây dựng Đảng và Người đã để lại dấu ấn cực kỳ quan trọng đối với sự ra đời và phát triển của Đảng ta.
a) Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong quá trình tìm con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc (sau này mang tên Hồ Chí Minh) đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Cuối năm l920, Người đã tham gia Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại thành phố Tua. Tại Đại hội này, Nguyễn Ái Quốc cùng với các đồng chí phái tả của mình trong đảng Xã hội Pháp bỏ phiếu gia nhập Quốc tế Cộng sản, sau đó cùng nhau đứng ra thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản (Section Francise de L’ Internationale Communiste, viết tắt là S.F.I.C) - tức là Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của Người, bước ngoặt tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và phát triển cho dân tộc Việt Nam – con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, nhất là hoạt động với tư cách là cán bộ Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản. Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, huấn luyện cán bộ, chuẩn bị chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đầu năm 1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Người đã chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành người sáng lập Đảng với cương lĩnh chính trị đúng đắn dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như điều kiện thực tế của Việt Nam và quốc tế, đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 có ý nghĩa vô cùng to lớn. Đảng ra đời đã chứng tỏ công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước, chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam ''đen tối như không có đường ra''; đánh dấu kết quả truyền bá và vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vào một nước thuộc địa nửa phong kiến; đánh dấu sự lớn mạnh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời không những là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, mà còn là kết quả của cả quá trình hoạt động tích cực, đầy hiệu quả của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Do vậy, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tác động tích cực tới sự phát triển của dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hữu nghị, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội.
b) Cùng toàn Đảng lãnh đạo đấu tranh lật đổ ách thực dân – phong kiến, xây dựng chính quyền cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, tháng 1-1941, Người về nước trực tiếp cùng Trung ương Đảng đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, tổ chức, lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan chế độ áp bức, bóc lột của các thế lực ngoại xâm, xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển đất nước, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền, với trách nhiệm lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn xã hội. Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Đảng đồng thời là Chủ tịch Chính phủ (sau này là Chủ tịch nước), tức là nguyên thủ quốc gia.
c) Cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân vừa kháng chiến vùa kiến quốc thắng lợi
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; xây dựng chế độ dân chủ nhân dân và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa - hậu phương vững chắc có tính chất quyết định tới thắng lợi của toàn bộ sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Từ khi thành lập Đảng đầu năm 1930 cho đến khi qua đời ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo lãnh đạo, rèn luyện Đảng ta, chỉ rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng Đảng để Đảng làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là theo những quan điểm của V.I.Lênin về đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Cho dù Đảng đã nhiều lần thay đổi tên gọi khác nhau: Đảng Cộng sản Việt Nam (từ đầu năm 1930 đến tháng 10-1930); Đảng Cộng sản Đông Dương (từ tháng 10-1930 đến tháng 2-1951); Đảng Lao động Việt Nam (từ tháng 2-1951 đến tháng 12-1976); Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 12-1976) nhưng Đảng vẫn là một Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tuân thủ những nguyên tắc hoạt động cơ bản của đảng Mác - Lênin.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt tới xây dựng Đảng, suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Người đã toàn tâm, toàn ý, đem hết sức mình chăm lo lãnh đạo, rèn luyện Đảng ta để Đảng xứng đáng là Đảng Mác - Lênin; Đảng của đạo đức, văn minh; một Đảng luôn luôn phấn đấu giành độc lập dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng; một Đảng trong sạch, vững mạnh, được nhân dân tin yêu, đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ đức - tài, phẩm chất - năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa.
2. Luôn luôn gương mẫu làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao phó
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu một tấm gương sáng, suốt đời phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Trong tấm gương đó, nổi bật nhất là:
a) Tấm gương tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn thực hiện một cách nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, coi kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt và tự giác. Người thực hiện đầy đủ, xuất sắc nhiệm vụ của một đảng viên theo đúng Điều lệ Đảng quy định và theo đúng nghị quyết, quyết định của tổ chức đảng, không vin vào cớ mình là Chủ tịch Đảng để có ngoại lệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hiện và yêu cầu các tổ chức đảng, yêu cầu mọi đảng viên nghiêm chỉnh thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất, có tính chất sống còn, quyết định chất lượng, sự tồn tại và phát triển của Đảng cũng như nghiêm chỉnh thực hiện các nguyên tắc khác ở từng thời kỳ, từng giai đoạn, từng lúc, từng nơi. Người nghiêm khắc, không bao che cho bất kỳ khuyết điểm, sai lầm của bất kỳ cán bộ, đảng viên nào nhưng rất khoan dung, luôn luôn ''có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau'', không cứng nhắc trong công việc. Người đặc biệt mở rộng và thực hành dân chủ, đồng thời nghiêm chỉnh thực hiện quyết định của tập thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thực hành dân chủ một cách đầy đủ và tích cực nhất trong sinh hoạt đảng, đồng thời dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm trước những tình huống cần phải nhanh chóng đưa ra những quyết định cá nhân và những quyết định đó hoàn toàn xuất phát từ trách nhiệm đối với vận mệnh của Đảng và Tổ quốc. Người nêu cao tinh thần phụ trách trước Đảng, trước dân tộc và nhân dân.
Sự làm gương của người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã có tác dụng thật sự tích cực, làm tăng hiệu quả cho công tác xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh. Sức mạnh của một đảng Mác - Lênin như Đảng ta được tạo ra bởi nhiều nguồn, nhưng Đảng ta thật diễm phúc khi có được một nguồn từ tấm gương sáng của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tấm gương sáng đó trở thành giá trị tinh thần vô cùng quý báu, trở thành sức mạnh to lớn, tạo lập được niềm tin vững chắc cho toàn Đảng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để giành thắng lợi trong các thời kỳ của cách mạng.
b) Tấm gương trau dồi phẩm chất , năng lực , đạo đức , lối sống, tác phong của một đảng viên
Một trong những điển nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là một cán bộ chủ chốt nhất của Đảng ta là ở phẩm chất, năng lực, đạo đức, lối sống, tác phong. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng, những khi bản thân Người ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội cũng chỉ vì phấn đấu cho độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp giải phóng cho con người, Người nói với một nữ phóng viên báo Granma của Cuba, ngày 14-7-1969: ''Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi''. Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết, đó là cuộc đời hiến dâng cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh được mọi người Việt Nam yêu nước thuộc nhiều thế hệ dành cho tình cảm yêu thương, kính trọng, được gọi là ''Bác Hồ'', và được Đảng ta tôn vinh là ''Anh hùng dân tộc vĩ đại'', được Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ghi nhận là ''Anh hùng giải phóng dân tộc'' và là ''Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam''.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là con người của sự quyết tâm cách mạng, của ý chí ''Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên''; của quyết tâm ''Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; của tinh thần quyết không cam chịu làm nô lệ một lần nữa, kêu gọi bất kể mọi người Việt Nam không phân biệt đảng phái, giàu nghèo, gái trai, dân tộc... đứng lên cầm mọi thứ có trong tay để bảo vệ nền độc lập của nước nhà, ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là biểu tượng sáng ngời của quyết tâm chống Mỹ, cứu nước, của tinh thần ''Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi'', và ''Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Phẩm chất nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung thành với Đảng, với nước, hiếu với dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người cộng sản có bản lĩnh chính trị cao cường, là một điển hình trong việc luôn luôn phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Mọi khó khăn, gian khổ trên bước đường cách mạng không làm. Người sờn lòng, Người một lòng một dạ chăm lo xây dựng Đảng ta lớn mạnh để đủ sức đáp ứng được yêu cầu của cách mạng. Người luôn luôn trăn trở về xây dựng Đảng. Ngay cả trong Di chúc trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ''Trước hết nói về Đảng''.
Năng lực nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tầm trí tuệ cao, tri thức uyên bác, nhìn xa trông rộng, giải quyết mọi công việc trên phương pháp biện chứng với một trái tim nhân ái của người cộng sản. Người là nhà tư tưởng, nhà lý luận mácxít, đồng thời là nhà tổ chức thực hành tài ba. Những điều đó chủ yếu là do Người tự học, tự rèn luyện trong cuộc sống. Đó là tấm gương khổ luyện, tự hoàn thiện nhân cách, có ý thức thâu thái, tinh lọc, tiếp biến các giá trị của văn hóa dân tộc và của nhân loại.
Đạo đức nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng nhân ái bao la đối với mọi lớp người lao động; là đức tính suốt đời trung với Đảng, với nước, hiếu với dân; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; là tấm lòng trong sáng, thủy chung trong mối quan hệ quốc tế vì hòa bình, hữu nghị, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác và phát triển bền vững. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tham vọng lớn lao. Đó là tham vọng làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, là tham vọng xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cả cuộc đời mình cùng với Đảng ta dấn thân vào cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Trong Di chúc , Người viết: ''Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa''. Người ra đi vào cõi vĩnh hằng nhưng không hối hận, chỉ có sự tiếc nuối. Đó là sự tiếc nuối của một người cộng sản chân chính, của một lãnh tụ Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.
Lối sống nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lối sống của một nhà văn hóa kiệt xuất và của một nhà hoạt động chính trị luôn có khát vọng vươn tới những chuẩn mực của chân, thiện, mỹ. Đó là lối sống giản dị, thiết thực, hòa đồng, thân thiện với thiên nhiên và xã hội. Đó là lối sống ung dung, thư thái, tự tại; lối sống cởi mở, quảng giao, chan hòa chân thành, trung thực trong ứng xử với mọi người, Đó là lối sống chú tâm rèn luyện và làm chủ bản thân mình trong mọi hoàn cảnh, rèn luyện hằng ngày đã thành nếp tự nhiên, không gượng ép .
Tác phong nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tác phong gần dân hiểu dân, vì dân: sâu sát, tỉ mỉ, ngăn nắp trong công việc; tác phong làm việc một cách dân chủ, khoa học, có tính quyết đoán cao. Đó là tác phong luôn luôn có ý thức đổi mới và luôn luôn đổi mới, sống và hành động với một ý chí lớn lao. Đó là tác phong gương mẫu trong cuộc sống cách mạng, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau'', ''tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (khổ trước thiên hạ và vui sau thiên hạ).
Tất cả những biểu hiện của tấm gương trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó góp phần quan trọng vào kết quả của quá trình xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, bởi ví như chính Người đã quan niệm: ở phương Đông và ở Việt Nam, một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.
Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu