TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ XỬ LÝ QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN
ThS. ĐỖ TRỌNG CƯƠNG
Phó Vụ trưởng - Phó Ban Nghiên cứu lịch sử ngoại giao,
Bộ Ngoại giao
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ LỢI ÍCH DÂN TỘC TRƯỚC CÁC CƯỜNG QUỐC
1. Một vài nhận thức về lợi ích dân tộc và hệ luỵ của nó trong quan hệ quốc tế
Khái niệm lợi ích dân tộc đến nay vẫn được nhiều nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế tranh luận, nhưng có thể hiểu theo nghĩa chung, lợi ích dân tộc là tổng hợp các quyền lợi của một dân tộc, một quốc gia và các nhân tố được quốc gia đó coi là có lợi cho thế và lực của họ, về chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hoá… đặc biệt là về an ninh quốc phòng. Nội dung của lợi ích quốc gia vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan do bị chi phối bởi lợi ích riêng và cách nhìn nhận riêng của giới cầm quyền. Song nhìn chung, sự sống còn và sức mạnh của một quốc gia, một dân tộc vẫn được coi là nhân tố cơ bản của lợi ích dân tộc. Lợi ích dân tộc thường được dùng làm cơ sở để hoạch định chính sách đối ngoại trong nền ngoại giao hiện đại. Tuy nhiên trong một số giai đoạn phát triển sơ khai trước đây và tại một số nước trong xã hội hiện đại, lợi ích dân tộc bị coi là thứ yếu sau lợi ích về tôn giáo, gia đình hoàng tộc hay ý thức hệ. Khái niệm lợi ích dân tộc hay lợi ích quốc gia được nhiều nhà lý luận về quan hệ quốc tế phương Tây đề cập, phát triển và có ảnh hưởng nhất định đến việc hoạch định chính sách của nhiều nước trên thế giới.
Ở phương Tây, số đông hiểu khái niệm lợi ích dân tộc thiên về nghĩa lợi ích nhà nước - quốc gia và mang đậm tính chủ quan của nhà nước đó, nghĩa là thiên về mục tiêu và tham vọng mà họ đặt ra. Theo Từ điển Wikipedia , thông thường khái niệm national interest trong tiếng Anh được hiểu với nghĩa của từ raison d’Etat (lý do nhà nước) trong tiếng Pháp. Khái niệm (hay ý tưởng) này lần đầu tiên được Niccolo Machiavelli, một triết gia kiêm chính trị gia người Italia đưa ra và được Tể tướng kiêm Hồng y giáo chủ Pháp Ritsơliơ (Richelieu) lần đầu tiên áp dụng trong cuộc Chiến tranh 30 năm. Trong cuộc chiến tranh này, mặc dù bản thân theo đạo Công giáo, Ritsơliơ chủ trương dẫn dắt nước Pháp đứng về phía đạo Tin lành để ngăn chặn thế lực ngày càng tăng của đế chế La Mã. Từ thời kỳ đó, lý lẽ lợi ích quốc gia được nhiều nước viện dẫn để biện minh cho hoạt động đối ngoại tuỳ thuộc sức mạnh của mình, kể cả gây chiến tranh vì quyền lợi ích kỷ của thế lực cầm quyền. Nhiều nhà lý luận về quan hệ quốc tế coi khái niệm lợi ích quốc gia là nền móng của trường phái hiện thực để phân biệt với các trường phái đặt giá trị đạo đức, ý thức hệ làm cơ sở cho quan hệ quốc tế. Cũng do nhiều cường quốc phương Tây có xu hướng theo đuổi điều mà họ coi là lợi ích dân tộc dựa trên sức mạnh của mình, nên ý tưởng “cân bằng lực lượng” giữa các cường quốc đã được đưa ra và sau đó áp dụng tại Hội nghị Vienna (1814-1815), nhằm ngăn ngừa khả năng một quốc gia nắm ưu thế tuyệt đối trong tương quan lực lượng để gây chiến tranh giành lợi quyền. Song các cách tổ chức thế giới theo ý tưởng cân bằng lực lượng nói trên đã không ngăn được cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, và các nước trên thế giới lại theo đuổi một ý tưởng mới “an ninh tập thể” với việc thành lập Hội Quốc liên. Ý tưởng này dựa trên nguyên tắc răn đe chống lại việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế mà nội dung là “tấn công chống lại một quốc gia hội viên được coi là tấn công chống lại tất cả các quốc gia hội viên khác”. Cần phải nói thêm rằng các tổ chức nêu trên là một kiểu “câu lạc bộ” chủ yếu chỉ bao gồm các nước đế quốc phương Tây; các nước kém phát triển vẫn không được quyền tham gia bình đẳng và vẫn đương nhiên bị coi là khu vực phụ thuộc, chia chác ảnh hưởng giữa các cường quốc đế quốc. Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra cho thấy sự thất bại của cơ chế này, vì trên thực tế không phải lúc nào các nước cũng thấy hành động như vậy là phù hợp với lợi ích dân tộc của họ. Trong bối cảnh trên, Liên hợp quốc được thành lập thay thế cho Hội Quốc liên nhằm khởi xướng giải pháp cho các cuộc xung đột về lợi ích quốc gia thông qua luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương đang hoạt động cho đến nay. Tuy nhiên giữa lý thuyết và thực tế còn một khoảng cách khá xa do một số thế lực ở các nước lớn vẫn nhân danh “lợi ích quốc gia”, cổ xúy cho việc sử dụng lợi thế về sức mạnh để theo đuổi tham vọng nước lớn, bất chấp luật pháp và lợi ích chính đáng của các nước nhỏ.
Để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh, Các Mác đã đưa ra cách tiếp cận hoàn toàn mới. Trên cơ sở phân tích bản chất của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, Các Mác đã đưa ra luận điểm về đấu tranh giai cấp trên phạm vi thế giới và kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”. Lênin nhận xét: “Đối với Mác, thật không nghi ngờ gì cả là so với “vấn đề công nhân”, thì vấn đề dân tộc chỉ có một ý nghĩa thứ yếu thôi” 1 . Ý thức được rõ hơn vấn đề dân tộc trong giai đoạn này, Lênin đã bổ sung: “Vô sản và tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới, liên hiệp lại!”, tuy nhiên chưa đề cập tính chủ động của cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích dân tộc
2.1. Nhận thức về lợi ích dân tộc trong lịch sử nước ta
Ở Việt Nam, trong thời kỳ phong kiến, thuật ngữ “lợi ích dân tộc” chưa được nêu ra, nhưng ý thức về dân tộc và lợi ích dân tộc đã được xác định rõ từ rất sớm. Đó là ý thức về chủ quyền và ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, là chủ nghĩa yêu nước, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Có thể nói khái niệm về lợi ích dân tộc và hệ quả của nó đã được thể hiện rõ ràng, súc tích như một chân lý trong bài thơ “Nam quốc sơn hà” (thế kỷ XI):
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
Hay trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi:
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Sơn hà cương vực đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên; mỗi bên hùng cứ một phương,
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.”
2.2. Hồ Chí Minh và nhận thức về lợi ích dân tộc
Trong quá trình tìm đường giải phóng dân tộc ta khỏi sự thống trị của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận vấn đề dân tộc và lợi ích dân tộc trước hết dưới giác độ của một dân tộc bị áp bức. Vấn đề dân tộc được Người đề cập không chỉ là lợi ích của riêng dân tộc Việt Nam mà còn của tất cả các dân tộc bị áp bức cũng như những người lao động bị áp bức trên thế giới. Nó không bó hẹp ở một cách tiếp cận thuần tuý dân tộc hay thuần tuý giai cấp, mà đặt trong mối quan hệ tương tác dân tộc - giai cấp, dân tộc - quốc tế trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Người đã chỉ rõ những vấn đề mà các dân tộc thuộc địa phải giải quyết. Theo số liệu mà Nguyễn Ái Quốc đưa ra khi Người phát biểu tại phiên họp thứ 22, Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản ngày 1 tháng 7 năm 1924, thì 9 nước đế quốc lúc bấy giờ với số dân hơn 320 triệu người thống trị, bóc lột hàng trăm dân tộc với số dân hơn 560 triệu người. Sự xâm lược, thống trị của chủ nghĩa đế quốc đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng: tạo ra sự đối lập, bất bình đẳng lớn nhất trong lịch sử nhân loại giữa các dân tộc bị áp bức, bóc lột và các dân tộc đi áp bức, bóc lột; sử dụng đội quân của dân tộc này chống dân tộc kia, gây mâu thuẫn xung đột giữa các dân tộc, kìm hãm sự phát triển của các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc, thậm chí làm cho một số dân tộc bị diệt vong. Nó cũng là nguyên nhân chính gây ra các cuộc chiến tranh thế giới. Người chỉ rõ cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đòi độc lập tự do, dân chủ không tách rời cuộc đấu tranh đòi bình đẳng dân tộc, không tách rời cuộc đấu tranh cho hoà bình thế giới.
Đối với Hồ Chí Minh, lợi ích của dân tộc Việt Nam trước hết là độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc, là chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước; đó cũng là quyền tự quyết của dân tộc trước các nước lớn. Nó xuất phát từ những ước vọng sâu xa của Người và của toàn dân Việt Nam, những ước vọng đơn giản nhưng mang tính nhân văn sâu sắc: “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. 2 Cùng với mục tiêu thiêng liêng giành lại độc lập, tự do, hạnh phúc, Người còn hướng tới mục tiêu khai sáng cho dân tộc. Sau khi tổng khởi nghĩa thành công, Người chỉ rõ đối tượng đấu tranh của nhân dân ta là “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”. Khác với quan niệm của một số người đặt lợi ích nhà nước lên trên hết, Hồ Chí Minh nhắc đến tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Khổng Tử, được Mạnh Tử phát triển thêm trong câu “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” mà Bác đã dịch ra tiếng Pháp và đăng trên tạp chí Cộng sản : “Lợi ích của nhân dân là trước hết, thứ đến là lợi ích của quốc gia, còn lợi ích của vua là không đáng kể” 3 . Theo Hồ Chí Minh, ý nghĩa và giá trị thực sự của độc lập dân tộc phải được thể hiện bằng quyền tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Về phương diện quốc tế, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quyền dân tộc trong đó có quyền bình đẳng, quyền độc lập, tự do thực sự, toàn vẹn lãnh thổ và quyền được sống trong nền hoà bình chân chính.
Trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người đã trích Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ nói về quyền bình đẳng: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; 4 và trích Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” , “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. 5 Trong một số bài viết sau đó, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, một dân tộc chỉ thực sự có quyền bình đẳng khi dân tộc ấy được hưởng độc lập hoàn toàn. Người cũng đã nêu một số nguyên tắc, đó là dân tộc ấy phải có đầy đủ chủ quyền quốc gia về chính trị, kinh tế, an ninh, ngoại giao… nước Việt Nam phải là của người Việt Nam; mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia của Việt Nam phải do người Việt Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp của bên ngoài và nước Việt Nam phải được thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Mục tiêu thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được Người rất coi trọng. Ngay trong những giờ phút gay go nhất khi cách mạng còn trong trứng nước, phía ta cần có sự nhân nhượng tạm thời với phía Pháp, ta cũng chỉ có thể tạm thời chấp nhận Việt Nam là một nước “tự do” trong Khối Liên hiệp Pháp, không nhân nhượng trước sức ép đòi tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam dưới chiêu bài “Nam Kỳ tự trị” của thực dân Pháp, dù là tạm thời.
Đối với lợi ích cơ bản của dân tộc, Hồ Chí Minh luôn bày tỏ thái độ kiên quyết. Người tuyên bố đanh thép: “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, 6 “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. 7 Ý chí mạnh mẽ đó cùng với thắng lợi trên chiến trường đã làm cho chính quyền Mỹ thấy rõ họ không thể thắng trong cuộc chiến tranh xâm lược này và tìm cách rút khỏi cuộc chiến. Tuy nhiên, tư tưởng của Bác không cực đoan. Phương châm của Bác là “biết người, biết ta”. Trong cuộc chiến với thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ, Bác luôn tỏ thái độ rộng mở, sẵn sàng đàm phán trên cơ sở đảm bảo lợi ích cơ bản của dân tộc ta và tìm kiếm những lợi ích của đối phương mà ta có thể đáp ứng. Bác ngỏ ý sẵn sàng có những nhân nhượng với Pháp về kinh tế và văn hoá, sẵn sàng trải thảm đỏ cho Mỹ rút quân khỏi Việt Nam trong danh dự nếu đối phương tôn trọng độc lập, chủ quyền và thống nhất lãnh thổ của Việt Nam. Trong cuộc họp báo nhân Hội nghị Phôngtennơblô (Fontainebleau) năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Chúng tôi không muốn đẩy người Pháp ra khỏi Việt Nam. Nhưng chúng tôi nói với họ: Các người hãy phái đến nước chúng tôi những kỹ sư, những nhà khoa học, những vị giáo sư, phái đến những người họ biết yêu chuộng chúng tôi. Nhưng chớ phái qua những người muốn bóp cổ chúng tôi.
Việt Nam cần nước Pháp. Nước Pháp cũng cần Việt Nam. Chỉ có lòng tin cậy lẫn nhau và sự cộng tác thật thà bình đẳng, thì mới đi đến kết quả thân thiện giữa hai nước” 8 .
3. Việc bảo vệ lợi ích dân tộc của các nước trên thế giới và của Việt Nam trước các cường quốc
Bảo vệ lợi ích dân tộc trước các cường quốc từ xa xưa đã là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia. Từ khi giao thương quốc tế phát triển, thế giới trở thành một thị trường thống nhất, và nhất là từ khi các cường quốc đế quốc đánh chiếm thuộc địa, tranh giành ảnh hưởng ở các nước chậm phát triển thì vấn đề bảo vệ lợi ích quốc gia trở nên gay gắt và phức tạp hơn. Nhân tố quốc tế trở thành nhân tố chi phối sự phát triển, thậm chí sự tồn vong của một dân tộc.
Cùng với cuộc cách mạng công nghiệp và các cuộc cách mạng tư sản nhân quyền và dân quyền, từ nửa cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản Âu - Mỹ phát triển nhanh chóng và chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Tại chính quốc, chúng tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân lao động, đặc biệt là giai cấp công nhân; ở bên ngoài, tiến hành chiến tranh đánh chiếm thuộc địa ở khắp các châu lục Á, Phi và Mỹ Latinh. Giữa các nước đế quốc nổ ra cuộc tranh đua quyền lực và giành giật ảnh hưởng trên thế giới. Một loạt mâu thuẫn nảy sinh: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc bị áp bức, mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc.
Trong bối cảnh đó, vấn đề giải phóng con người khỏi sự áp bức, bóc lột trên được đặt ra: ở chính quốc, vấn đề chính nổi lên là giải phóng giai cấp vô sản khỏi sự bóc lột của giai cấp tư sản, ở các nước kém phát triển, vấn đề là bảo vệ độc lập dân tộc hoặc giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc.
Dưới giác độ dân tộc, sự phát triển không đều tạo ra những biến động lớn trong tương quan lực lượng giữa các quốc gia. Đây là điều kiện cho các nước đế quốc gây chiến tranh chinh phục thuộc địa hoặc tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau ở các nước chậm phát triển. Đối với các nước chậm phát triển, bên cạnh vấn đề đấu tranh giai cấp là vấn đề phát triển đất nước để có đủ sức chống lại các nguy cơ từ bên ngoài do sự mất cân đối quá lớn về tương quan lực lượng nói trên tạo ra.
Ở khu vực châu Á lúc đó, hầu hết các nước còn chìm đắm trong lạc hậu, không đọ nổi sức mạnh của các cường quốc đế quốc, đã lần lượt rơi vào ách đô hộ của chúng, trừ hai nước Nhật Bản và Thái Lan:
- Trước đòn phủ đầu của các chiến hạm Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan và nguy cơ bị mất nước, tại Nhật Bản, các lực lượng duy tân đã lật đổ chính quyền thủ cựu và phát động cuộc cải cách Minh Trị, bắt đầu từ năm 1868, chủ trương học tập văn minh phương Tây, phát triển kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật và văn hoá, tư tưởng theo tinh thần: “Để bảo vệ độc lập của Nhật Bản, không còn cách nào ngoài con đường tiến đến văn minh. Lý do duy nhất để người Nhật Bản tiến tới văn minh là để bảo vệ độc lập đất nước” 9 . Chính con đường canh tân này đã giúp Nhật Bản phát triển nhanh chóng, bảo vệ được nền độc lập và vươn lên thành một nước đế quốc.
- Đối với Thái Lan (nước Xiêm), Vương triều Rama IV ý thức được tương quan lực lượng bất lợi cho họ, đã tìm cách lôi kéo tất cả các nước Anh, Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức và các nước phương Tây khác cùng có mặt tại Thái Lan, chấp nhận nhượng bộ, tạo thế hài hoà về lợi ích nhằm không để Thái Lan trở thành thuộc địa của một nước nào, giữ được nền độc lập tương đối của mình. Trong quá trình phát triển, Thái Lan từng bước giành lại những quyền lợi đã nhân nhượng trước đây.
Tại Việt Nam, từ đầu thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ở trong tình trạng khủng hoảng và suy tàn; bên trong duy trì đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến, kìm hãm những lực lượng sản xuất mới manh nha phát triển, đối với bên ngoài thực hiện bế quan tỏa cảng, làm cho sản xuất, giao thương đình trệ, đi ngược với xu thế tiến hoá của xã hội loài người. Đất nước nghèo nàn, lạc hậu, lại không có được sự đoàn kết nhất trí của đông đảo nhân dân, không có được chuẩn bị cả về vật chất và tinh thần để đương đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩa thực dân đang bành trướng mạnh mẽ, cuối cùng đã rơi vào tay Pháp.
Với truyền thống yêu nước, bất khuất của nhân dân ta, nhiều cuộc khởi nghĩa, nhiều phong trào yêu nước: Đông du, Đông kinh nghĩa thục, Duy tân hội… đã nổi lên chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, nhưng đều thất bại. Một trong những nguyên nhân chính là trong lúc chế độ phong kiến ở Việt Nam đã thối nát, hầu hết những người lãnh đạo vẫn chủ trương duy trì chế độ phong kiến lạc hậu, không gắn vấn đề giải phóng đất nước với giải phóng con người, không đúng với xu thế của thời đại , vì vậy chưa tập hợp được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân thành một mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc.
Tiếp thu truyền thống đấu tranh vẻ vang của dân tộc kết hợp với phương pháp khoa học biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh hoa văn hoá của phương Đông, phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới, Hồ Chí Minh đã dẫn dắt sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam lần lượt vượt qua thử thách của các cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ xâm lược, đi đến thắng lợi hoàn toàn và để lại cho nền ngoại giao hiện đại Việt Nam một di sản vô cùng quý báu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao.
Khác với các nhà yêu nước đương thời, Hồ Chí Minh chủ trương giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng: đấu tranh để giải phóng cả dân tộc và giai cấp. Song đấu tranh giai cấp ở đây là đấu tranh giai cấp ở điều kiện cụ thể của nước Việt Nam lúc bấy giờ, không phải ở trình độ phát triển của các nước Âu, Mỹ; nghĩa là tập hợp tất cả các tầng lớp nhân dân lao động, những người yêu nước đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi cả hai tầng áp bức thực dân và phong kiến phản động, giành chính quyền về tay nhân dân ; đồng thời gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới và dẫn dắt cách mạng Việt Nam tiến theo dòng chảy của cách mạng thế giới. Lợi ích dân tộc tối thượng trong suốt thời kỳ này cho đến khi đất nước ta được hoàn toàn giải phóng năm 1975 là giành lại độc lập, tự do, thống nhất cho dân tộc Việt Nam. Chính nhờ cách tiếp cận cách mạng này của Bác mà sự nghiệp giải phóng dân tộc của ta đã tập hợp được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân lao động trong cả nước và sự ủng hộ của các phong trào cách mạng trên thế giới, tạo thành một sức mạnh tổng hợp to lớn, chiến thắng được lực lượng vật chất to lớn của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO ĐẢM LỢI ÍCH DÂN TỘC VÀ VIỆC XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện rất cô đọng trong việc xử lý quan hệ với các nước lớn. Ở đây chúng tôi chỉ xin nêu một vài điểm lớn và chung nhất cho các thời kỳ đã qua.
1. Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế
1.1. Độc lập, sáng tạo trong tư duy
Một trong những điểm nổi bật nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là cách tư duy độc lập, sáng tạo, không giáo điều, rập khuôn, luôn tìm tòi suy nghĩ hướng đi, cách luận giải mới để bảo đảm lợi ích của dân tộc Việt Nam. Người thường nói: muốn làm gì cũng cần vì lợi ích dân tộc mà làm.
Thông thường, các nước lớn hay các đảng lớn là xuất phát điểm của các dòng chủ lưu về tư duy chính trị cũng như chiến lược đối ngoại. Các dòng chủ lưu này phần nhiều xuất phát từ lợi ích hoặc từ thực tế của các nước lớn, các đảng lớn và không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích hoặc thực tế của cách mạng Việt Nam. Với tư duy độc lập và sáng tạo, đứng trên góc nhìn cụ thể của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tìm ra cách luận giải mới bảo đảm lợi ích của dân tộc ta mà không đối lập với dòng chủ lưu của các đảng lớn và các nước lớn anh em. Có thể nêu hai ví dụ:
Một là , vào đầu thế kỷ XX, đứng trên giác độ đấu tranh giai cấp ở một nước phát triển, các đảng lớn, đại biểu cho quan điểm chính thống của Quốc tế Cộng sản chủ trương giải quyết vấn đề giai cấp trước rồi mới giải quyết vấn đề dân tộc và cho rằng chỉ có làm cách mạng thành công ở chính quốc thì mới có thể làm được cách mạng ở các nước thuộc địa. Tuyên ngôn thành lập Quốc tế Cộng sản (năm 1919) viết: “Sự giải phóng các thuộc địa chỉ có thể có được cùng với sự giải phóng giai cấp công nhân ở chính quốc. Công nhân và nông dân không những ở An Nam, Angiêri, Bengalia mà cả ở Ba Tư hay Ácmênia, chỉ có thể giành được độc lập khi mà công nhân các nước Anh và nước Pháp lật đổ được Lôit Gioócgiơ và Clêmăngxô, giành chính quyền nhà nước trong tay mình”.
Hồ Chí Minh vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong hoàn cảnh cụ thể của các dân tộc nhược tiểu bị áp bức xâm lược. Người chỉ rõ phải giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp . Ở Việt Nam, quyền lợi giai cấp và quyền lợi của dân tộc là nhất trí, đấu tranh giải phóng dân tộc là một phần của đấu tranh giải phóng giai cấp. Các nước thuộc địa cần đấu tranh để tự giải phóng mà không đợi cách mạng vô sản thành công ở chính quốc; làm cách mạng ở các nước thuộc địa chính là giúp cho cách mạng ở chính quốc.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh quan điểm của Mác là trong mỗi giai đoạn lịch sử tiến hoá của xã hội loài người, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Ở Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến - mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc và tay sai nổi trội hơn mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Do đó, chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp. Giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp và tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp. Quan điểm trên sau này được chính thức hoá trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ
tám Ban Chấp hành Trung ương tháng 5 năm 1941 do Hồ Chí Minh chủ trì: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” 10 .
Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa” 11 . Bằng thắng lợi của mình, hàng trăm triệu nhân dân châu Á có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn. Người kêu gọi công nhân và các đảng cộng sản ở các nước phương Tây tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước và chiến lược của cách mạng Việt Nam là đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công nhân, nông dân, trí thức là một. Chủ nghĩa yêu nước chân chính là một bộ phận của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong Quốc tế Cộng sản cũng như trong Đảng Cộng sản ở Đông Dương, Bác đã kiên quyết bảo vệ quan điểm này dù có lúc bị phê phán và hạn chế hoạt động.
Như vậy Bác Hồ đã bảo vệ lợi ích của dân tộc ta mà không đối lập với phong trào cách mạng chung trên thế giới.
Ngày nay nhìn lại, nếu không có luận điểm đúng đắn và sáng tạo đó của Bác mà chỉ thuần tuý nói tới vấn đề đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, chỉ chờ cho cách mạng vô sản chính quốc thành công thì chưa biết sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã đi tới đâu.
Hai là , cũng với trí độc lập, sáng tạo như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục được các đảng và các nước anh em ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trong bối cảnh hoà hoãn Xô - Mỹ.
Vào đầu những năm 1960, Liên Xô chủ trương hoà hoãn, thi đua hoà bình, lo ngại một tia lửa nhỏ cũng có thể đốt cháy cả đồng cỏ và cuộc chiến tranh ở Việt Nam có thể dẫn đến chiến tranh thế giới. Đảng ta và Bác Hồ đã lý giải: Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống xâm lược của đế quốc Mỹ hiếu chiến là nhằm giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của thời đại; phù hợp với xu thế của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Cuộc đấu tranh này góp phần bảo vệ hoà bình thế giới, bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, sẽ không dẫn đến chiến tranh thế giới và cũng không phá hỏng hòa hoãn giữa Liên Xô và Mỹ. Do đó chúng ta đã giành được sự đồng tình, ủng hộ của Liên Xô và các nước trên thế giới.
Tư tưởng độc lập, tự chủ, sáng tạo về tư duy này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không được quán triệt và thực hiện trong thời kỳ cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, nên chúng ta đã mắc phải những sai lầm nặng nề, giáo điều, rập khuôn dẫn đến tình trạng khủng hoảng kéo dài cho đến khi ta tiến hành đổi mới sâu rộng.
1.2. Độc lập, tự chủ trong hành động
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta thường chịu tác động nhiều chiều của các nước lớn. Đối với kẻ thù là sự đe dọa, đối với đồng minh là tác động dưới nhiều hình thức. Để vững lái con thuyền cách mạng Việt Nam trong bối cảnh đó, trong ý chí cũng như phương pháp hành động, Bác Hồ thể hiện một tinh thần độc lập tự chủ mẫu mực, kiên định trong ý chí, tự chủ trong hành động ; đối với kẻ thù phải kiên quyết, khôn khéo; đối với đồng minh vừa đoàn kết vừa đấu tranh. Điểm bất biến trong tư tưởng của Bác chính là lợi ích của dân tộc Việt Nam.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam đứng trước thử thách to lớn, phải đối mặt với Mỹ là nước đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, hung hăng nhất thế giới trong khi phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang có bất đồng lớn, Hồ Chí Minh lại một lần nữa khẳng định tư tưởng độc lập tự chủ, chủ động tiến công. Người nói: không nên đặt câu hỏi Mỹ mạnh, can thiệp vào Việt Nam thì ta thế nào? Mỹ giúp Pháp mạnh hơn, ta thế nào? Mỹ giúp bù nhìn tổ chức quân đội mạnh hơn, ta thế nào? Hỏi như vậy là bị động, “phải đặt ngược lại là: ta chủ động, Mỹ đến ta cũng đánh; Pháp mạnh, ta cũng đánh; bù nhìn tổ chức thêm quân, ta cũng đánh” 12 .
Không chỉ độc lập, tự chủ trong hành động trước kẻ thù, Hồ Chí Minh luôn giữ độc lập, tự chủ trong hành động phối hợp với các nước lớn xã hội chủ nghĩa anh em. Trong khi giúp đỡ ta, các nước lớn anh em đều muốn sử dụng vấn đề Việt Nam làm con bài mặc cả với Mỹ, thúc ta đánh hoặc đàm theo ý họ, vì lợi ích của họ. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ta đã khéo léo xử lý quan hệ, chủ động đánh theo chiến lược của ta, chủ động trong việc chọn thời điểm, phương thức, nội dung, giải pháp đàm phán với Mỹ và kết thúc chiến tranh, độc lập với Liên Xô và Trung Quốc, nhằm mục đích cao nhất là giành thắng lợi hoàn toàn cho cách mạng Việt Nam. Cả đối với Liên Xô và Trung Quốc, ta đều tạo điều kiện để họ có tiếng nói và vị trí trong vấn đề Việt Nam, nhưng đều không nhận quân tình nguyện chiến đấu ở Việt Nam và cố vấn bên cạnh Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đối với Liên Xô, ta kiên trì đấu tranh trên ba mặt trận, không đi vào giải pháp sớm như Liên Xô thúc ép và không để Liên Xô làm trung gian giữa ta và Mỹ. Đối với Trung Quốc, ta từ chối đề nghị của Trung Quốc đưa bộ đội làm đường vào miền Nam hoặc đưa cán bộ Trung Quốc vào miền Nam “nghiên cứu”. Mặc dù Trung Quốc phản đối ta vừa đánh vừa đàm và khuyên ta phải trường kỳ kháng chiến, nhưng ta vẫn tiến hành nói chuyện với Mỹ và kết thúc đàm phán thắng lợi. Do đó ta đã tránh được thỏa hiệp giữa Liên Xô hoặc Trung Quốc với Mỹ gây bất lợi cho ta.
1.3. Tự lực, tự cường dân tộc đi đôi với đoàn kết, hợp tác quốc tế
Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Bác Hồ đã kêu gọi nhân dân ta “lấy sức ta giải phóng cho ta” và sau đó là “nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến” chống thực dân Pháp. Quan điểm của Người là muốn người ta giúp cho thì trước hết tự mình phải cứu mình đã. Như trên đã nêu, con đường Bác chỉ ra cho dân tộc Việt Nam không phải là làm cách mạng thế giới rồi nhờ thắng lợi hay sự giúp đỡ của thế giới để giải phóng Việt Nam. Con đường của Bác là con đường cách mạng bằng sự nỗ lực và sức mạnh của chính mình, là tranh thủ thời cơ và sự giúp đỡ bên ngoài để dân tộc ta và sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta lớn mạnh, chủ động vươn lên tự giải phóng cho mình, qua đó góp phần vào cách mạng thế giới.
Trong giai đoạn 1941-1945, Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống phát xít, Đảng Cộng sản Đông Dương xác định mối quan hệ này thực chất là quan hệ với các nước lớn, đã nhấn mạnh: “Chú ý rằng: Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy” 13 . Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, năm 1949 trả lời các nhà báo nước ngoài, Bác Hồ khẳng định: “Thắng lợi của Việt Nam sẽ là độc lập và thống nhất thực sự”, bởi vì “Chúng tôi bao giờ cũng trông ở sức mình. Chúng tôi không sợ ai cả. Không nước nào có thể thống trị được chúng tôi” 14 . Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như chống đế quốc Mỹ, Bác luôn kêu gọi nhân dân ta kháng chiến - kiến quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc - đấu tranh giải phóng miền Nam; nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào việc xây dựng thực lực cũng luôn là một nhiệm vụ trung tâm. Năm 1948, Bác Hồ căn dặn: “Mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do” 15 .
Hồ Chí Minh luôn ý thức rằng cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Vì vậy, chủ trương độc lập tự chủ nhằm bảo đảm lợi ích dân tộc chính đáng, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta, nhưng không rơi vào xu hướng biệt lập, chủ nghĩa biệt phái hay ích kỷ, hẹp hòi. Để chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn mình nhiều lần trong bối cảnh thời đại mới, Hồ Chí Minh luôn chủ trương đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các nước, trước hết là của các nước lớn anh em là Liên Xô và Trung Quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn độc lập tự chủ với đoàn kết quốc tế, vừa tranh thủ, vừa đấu tranh để thực hiện mục tiêu của cách mạng, bảo vệ quyền lợi của dân tộc. Đây là một nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động quốc tế và ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.
Ngày 3 tháng 8 năm 1956, giữa lúc các đảng cộng sản và công nhân quốc tế có bất đồng về vấn đề độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trên báo Sự thật (Liên Xô) nêu bật mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố đó: Trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ở từng nước ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách của mỗi đảng cộng sản và mỗi đảng công nhân… nhưng đồng thời Đảng chúng tôi cũng hiểu rõ rằng không thể nào hạn chế những hoạt động hiện nay và tương lai của chúng tôi trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý, rằng những hoạt động đó có muôn vàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ.
2. Coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn và đánh giá tác động của cục diện giữa các nước lớn đến nước ta
Trong lịch sử thế giới, chiến lược của các nước lớn và quan hệ đấu tranh, thoả hiệp giữa họ với nhau thường chi phối tình hình thế giới và quan hệ quốc tế. Các cuộc chiến tranh thế giới nổ ra trong thế kỷ XX đều bắt nguồn từ những mâu thuẫn không thể điều hoà được giữa các nước lớn, lôi kéo các nước khác vào dòng xoáy của cuộc chiến. Sự dàn xếp, thoả hiệp giữa họ với nhau thường được tiến hành trên lưng các nước nhỏ yếu, vì lợi ích của riêng họ, dễ dàng hy sinh quyền lợi của các nước nhỏ yếu, kể cả đồng minh. Tuy nhiên, nếu các nước nhỏ có đối sách đúng đắn, biết khai thác những mối quan hệ tuỳ thuộc, biết ứng xử khôn khéo, linh hoạt và kịp thời thì có thể hạn chế được những thoả hiệp giữa các nước lớn bất lợi cho mình. Phương pháp xử lý của Bác là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Điểm “bất biến” của Bác là bảo đảm lợi ích cơ bản của dân tộc.
2.1. Coi trọng quan hệ với các nước lớn và xử lý đúng đắn mối quan hệ với các nước lớn, vừa hợp tác, vừa đấu tranh
a) Coi trọng quan hệ với các nước lớn và vai trò của các nước
Sớm thấy rõ tầm quan trọng của các nước lớn trong quan hệ quốc tế cũng như đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ với các nước lớn và việc xử lý đúng đắn quan hệ của Việt Nam với các nước lớn. Và điều đó diễn ra trong mọi hoàn cảnh: ta bị đối phương bao vây, không có quốc gia đồng minh nào giúp đỡ cũng như trong hoàn cảnh ta có đồng minh là các nước xã hội chủ nghĩa.
Ngày 3 tháng 10 năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra thông cáo về chính sách ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu rõ: chính sách ngoại giao của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở thực tiễn Việt Nam, tình hình quốc tế, thái độ của các “liệt quốc”.
b) Thêm bạn, bớt thù, tranh thủ đồng minh dù bấp bênh, có điều kiện, tránh cùng một lúc đối đầu với nhiều nước lớn, phân hóa hàng ngũ đối phương
Trong khi nhấn mạnh tinh thần tự lực, tự cường và biết rõ bản chất của các nước lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất coi trọng việc thiết lập và phát triển quan hệ với các nước lớn với tinh thần “không gây thù oán với một ai” và “tìm kiếm bạn đồng minh dầu rằng tạm thời bấp bênh, có điều kiện”. Đối với các nước lớn, Hồ Chí Minh chủ trương tránh đối đầu chừng nào còn có thể tránh được, cố gắng tìm ra điểm tương đồng với họ, lợi dụng mâu thuẫn và khác biệt giữa họ với nhau, xử lý khôn khéo, linh hoạt để phân hoá hàng ngũ đối phương, tránh bị kẹp trong xung đột giữa các nước lớn và hết sức tránh cùng một lúc đối đầu với nhiều nước lớn. Điển hình của đối sách trên là sách lược hòa với Tưởng để chống Pháp ở miền Nam và sau đó hòa với Pháp để đuổi quân Tưởng về nước trong thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám. Phương châm xử lý quan hệ với các nước lớn là “dàn xếp sao cho đại sự thì thành tiểu sự và tiểu sự thì thành vô sự”.
Việc coi trọng quan hệ với các nước lớn được thể hiện nhất quán trong nhiều thời kỳ và hoàn cảnh khác nhau: Trong thời kỳ chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Bác tìm cách liên hệ với lực lượng đồng minh Mỹ đóng ở Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ chống phát xít Nhật. Sau khi cách mạng thành công Bác vẫn tìm cách hoà hoãn với Pháp - Tưởng, tránh đối đầu để bảo toàn và xây dựng lực lượng; chỉ đánh khi thấy không còn khả năng hoà hoãn. Trong thời kỳ kháng chiến ác liệt chống thực dân Pháp, Bác vẫn phân biệt giữa nhân dân tiến bộ Pháp và bọn thực dân Pháp, vẫn tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cũng như vậy trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, Bác tranh thủ nhân dân tiến bộ Mỹ, tuyên bố sẵn sàng trải thảm đỏ để Mỹ rút quân khỏi Việt Nam, tranh thủ vai trò của Pháp để phân hoá Pháp với Mỹ. Cách xử lý của Bác với các nước lớn trong thời kỳ trước và sau cách mạng, đặc biệt trong bối cảnh ta chưa có đồng minh, là bài học mẫu mực về hoà hoãn và lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương.
c) Hết sức tranh thủ, đoàn kết với các nước lớn anh em song không vì vậy mà từ bỏ đấu tranh
Từ khi thiết lập được mối quan hệ ngoại giao với phe xã hội chủ nghĩa, Bác rất quan tâm phát triển mối quan hệ mật thiết với Liên Xô và Trung Quốc. Nhờ mối quan hệ tốt đẹp đó Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần của hai nước lớn anh em. Song trong bối cảnh mâu thuẫn Xô - Trung, ta vừa phải xử lý hài hoà vấn đề chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa và lợi ích dân tộc giữa ta với các nước trên, vừa phải xử lý vấn đề giữa hai nước lớn anh em với nhau. Bác đã nêu nguyên tắc: Mục đích của ta là vì đoàn kết. Vì đoàn kết mà phải tranh đấu. Tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai… Phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân giữ được lòng yêu mến và biết ơn các nước bạn anh em…, đó là “thiên kinh địa nghĩa”, đồng thời không nên coi bất đồng là chuyện lạ, xử lý quan hệ với các nước lớn trên nguyên tắc độc lập tự chủ, không thiên vị, không “nhất biên đảo”.
2.2. Coi trọng việc đánh giá cục diện quan hệ giữa các nước lớn và tác động của cục diện đó đến nước ta
Để xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, điều quan trọng trước tiên là theo dõi đánh giá cục diện các nước lớn và tác động của nó đến sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Hồ Chí Minh am hiểu các nước lớn là đồng minh cũng như là đối phương, biết được lợi ích, mối quan tâm và chiến lược cơ bản của họ, hiểu bản chất của nền chính trị ngoại giao nước lớn, giới hạn của các mối quan hệ đó và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của nó đến ta để đề ra những đối sách đúng đắn, kịp thời.
Từ năm 1941, khi phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương và chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra, nhiều nước lớn cùng nhòm ngó Việt Nam và Đông Dương, Việt Nam phải xử lý quan hệ với các nước lớn trong tổng thể mối quan hệ tương tác phức tạp, luôn biến đổi giữa họ với nhau và giữa từng nước với ta, cả về mặt lợi ích cũng như so sánh lực lượng. Sự biến đổi nêu trên tạo ra sự phân hoá nhiều khi rất nhanh chóng trong quan hệ giữa các nước lớn, mang lại cho sự nghiệp cách mạng của chúng ta những nguy cơ mới cùng những thời cơ mới. Ngay từ thời kỳ này, Bác chủ trương chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng nắm bắt khi thời cơ đến.
Phân tích kỹ các mặt thống nhất và mâu thuẫn giữa Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch) và tác động của nó đến cách mạng Đông Dương, Nghị quyết Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Tân Trào ngày 13 tháng 8 năm 1945 nêu rõ: “Sự mâu thuẫn giữa Anh, Mỹ, Pháp và Liên Xô có thể làm cho Anh, Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương”, “Chính sách chúng ta là phải tránh cái trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Tàu, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt chính phủ của Pháp Đờ Gôn hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc”, “Bởi vậy cần tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại mưu mô của Pháp định khôi phục địa vị cũ ở Đông Dương và mưu mô của một số quân phiệt Tàu định chiếm nước ta” 16 . Song Đảng ta cũng xác định: Đừng ảo tưởng rằng: quân Tàu và quân Anh, Mỹ sẽ mang lại tự do cho ta. Không, trong cuộc chiến đấu giải phóng cho ta, cố nhiên là phải kiếm bạn đồng minh dầu rằng tạm thời bấp bênh, có điều kiện, nhưng công việc của ta trước hết ta phải làm lấy.
Phân tích đúng đắn đó đã giúp Đảng ta có một chiến lược và sách lược khôn khéo cùng một lúc đối phó được với nhiều kẻ thù đang âm mưu xâm lược nước ta, nắm bắt thời cơ giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám và bảo vệ thành công chính quyền non trẻ.
3. Kết hợp sức mạnh tổng hợp của dân tộc với sức mạnh của thời đại, dân tộc với quốc tế, tập hợp lực lượng nhiều tầng nấc khác nhau, tạo thế đứng vững chắc cho ta trong quan hệ với các nước lớn
3.1. Kết hợp sức mạnh tổng hợp là yêu cầu tất yếu
Việt Nam là một nước không lớn, đang còn ở trình độ phát triển tương đối thấp. Trong quan hệ và nhất là trong các cuộc xung đột lợi ích với các nước lớn, nếu chỉ tính tương quan lực lượng giữa hai bên, và nhất là lực lượng vật chất giữa hai bên, thì cán cân thường nghiêng về phía nước lớn. Nhưng nếu tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp chính nghĩa của ta thì sẽ có thể tạo ra một cán cân lực lượng mới có lợi cho việc bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa đó. Vì vậy, trước các cường quốc lớn, Việt Nam phải huy động sức mạnh tổng hợp cả về vật chất và tinh thần của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh quốc tế, sức mạnh của thời đại thì mới có thể bảo vệ được các lợi ích chính đáng của dân tộc ta. Xử lý các vấn đề của đất nước cũng như quan hệ quốc tế phù hợp với xu thế phát triển chung sẽ giúp đất nước ta phát triển nhanh và nhận được sự hợp tác quốc tế thuận lợi hơn, tạo sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Đi ngược với xu thế sẽ làm cho chúng ta gặp nhiều khó khăn trở ngại hơn.
3.2. Huy động sức mạnh tổng hợp của đất nước
Sức mạnh tổng hợp của dân tộc là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, văn hoá, khoa học kỹ thuật... Về chính trị, trước hết là khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, lòng yêu nước và sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta, về quân sự là thế trận chiến tranh nhân dân và ba thứ quân, về ngoại giao là kết hợp ngoại giao Đảng, Nhà nước và
nhân dân... Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như giải phóng đất nước, chúng ta đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa đấu tranh giai cấp và đấu tranh giải phóng dân tộc, tạo ra được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc làm cơ sở để phát huy sức mạnh của dân tộc trên mọi lĩnh vực. Đối với các nước lớn, sức mạnh to lớn của ta còn biểu hiện ở ý chí quật cường, không chịu khuất phục trước bạo lực, cường quyền, ở sự đoàn kết nhất trí từ trên xuống dưới trong Đảng, Nhà nước và nhân dân trong mục tiêu bảo vệ lợi ích chính đáng của dân tộc. Trước sự chia rẽ, do tác động từ bên ngoài cũng như nguy cơ bất đồng nội bộ, Bác kêu gọi: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công” và chỉ rõ đây là nhân tố quyết định sự thắng lợi của cách mạng nước ta.
3.3. Triệt để huy động sức mạnh quốc tế, sức mạnh thời đại
Trên phạm vi thế giới, sức mạnh quốc tế có được nhờ những tập hợp lực lượng khác nhau trên cơ sở tương đồng về một lợi ích nhất định. Đối với một nước nhỏ bé như ta khi đối mặt với một nước lớn, điều hết sức quan trọng là tìm ra điểm tương đồng về lợi ích để tập hợp lực lượng rộng rãi, phục vụ cho lợi ích của ta. Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Đảng và Bác Hồ chủ trương: “Ai làm cách mạng trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả” và sau khi giành được chính quyền: “Mục đích của ta lúc này là tự do, độc lập… bạn của ta trong giai đoạn này tất cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy” 17 .
Sức mạnh quốc tế thời đại ngày nay trước hết là sức mạnh của thời đại, là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đấu tranh ngoại giao theo tư tưởng Hồ Chí Minh là cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa, phù hợp với lương tâm và lương tri của thời đại. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội là những ngọn cờ để tập hợp các lực lượng quốc tế khác nhau cùng có mẫu số chung là ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa và đông đảo nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới, kể cả một bộ phận nhân dân Mỹ. Điều đó một mặt, tạo thành một mặt trận thứ hai - mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam - khiến cho đế quốc Mỹ cùng một lúc phải đối phó trên hai mặt trận, sức mạnh của Mỹ bị hạn chế; mặt khác, tạo ra một sức mạnh tổng hợp to lớn làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho sự nghiệp chính nghĩa của ta.
Để đi đến kết quả trên, ta đã có nhiều hình thức tập hợp lực lượng khác nhau, với nhiều đối tượng có mục tiêu khác nhau, song tất cả đều có điểm chung là ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam hoặc chỉ đơn thuần là chống hành động dã man của Mỹ.
Điều đáng chú ý là trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, về mặt nhà nước, Việt Nam một mặt xác định là một nước xã hội chủ nghĩa, tham gia khối SEV và các hoạt động chung về chính trị, kinh tế của phe xã hội chủ nghĩa, mặt khác vẫn tích cực tham gia phong trào không liên kết, tranh thủ rộng rãi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Chính các tập hợp lực lượng này đã giúp Việt Nam củng cố thế đứng của mình trước các nước lớn là đối thủ cũng như là đồng minh của ta.
4. Sử dụng tổng hợp các biện pháp ngoại giao
Để huy động được triệt để các nguồn lực nêu trên, trong hoạt động ngoại giao với các nước lớn, Hồ Chí Minh đã sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp ngoại giao: lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, thêm bạn bớt thù… và đặc biệt là ngoại giao tâm công.
Phát huy truyền thống ngoại giao hoà hiếu của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh triệt để sử dụng ngoại giao tâm công: với bạn bè thể hiện tình cảm chân thành, vừa là đồng chí, vừa là anh em, đoàn kết, hữu nghị và hợp tác, với đối phương khẳng định ý chí quyết tâm nêu cao chính nghĩa, lẽ phải, thức tỉnh lương tâm đồng thời tỏ rõ thiện chí hoà bình, hợp tác cùng có lợi, quan tâm đến những lợi ích của đối phương không trái với lợi ích cơ bản của dân tộc ta. Hồ Chí Minh chú trọng tranh thủ cá nhân, bạn bè quốc tế bằng những cử chỉ tượng trưng hoặc xử lý tinh tế thấm đậm tình người.
5. Giành thắng lợi từng bước tiến tới thắng lợi hoàn toàn
Như trên đã nêu, nước ta không lớn, tiềm lực vật chất của ta rất hạn chế. Song ta có chính nghĩa, có sức mạnh to lớn về tinh thần. Ở xuất phát điểm trong một cuộc xung đột về lợi ích với một nước lớn, cán cân lực lượng thường nghiêng về phía đối phương. Muốn đạt được thắng lợi, ta phải biết giành thắng lợi từng bước, để củng cố và phát triển thực lực, từng bước thay đổi tiến đến thay đổi hoàn toàn cán cân lực lượng, giành thắng lợi hoàn toàn. Trong thời kỳ cách mạng mới giành được chính quyền, ta đồng ý ký với Pháp “Việt Nam là một nước tự do trong Khối Liên hiệp Pháp” để có thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu giành lại độc lập. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã chủ trương đánh lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận quân địch, ký Hiệp định Pari để quân đội Mỹ rút đi mà quân đội miền Bắc vẫn ở lại miền Nam, góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường, tạo điều kiện để đánh đổ ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Như vậy có thể thấy, độc lập tự chủ, tự lực, tự cường; coi trọng quan hệ với các nước lớn; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh của dân tộc với sức mạnh quốc tế; giành thắng lợi từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn là một số bài học lớn của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, được thực hiện một cách có hiệu quả trong thời kỳ thế giới chia làm hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập, cả khi nước ta còn bị các nước đế quốc bao vây, cô lập thời kỳ đầu cách mạng, lẫn khi nước ta có đồng minh là các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn 1975-1985, do nóng vội và giáo điều, tư tưởng Hồ Chí Minh đã không được thực hiện triệt để. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến khó khăn của đất nước và phải đến khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới sâu rộng, nêu cao tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, đất nước ta mới dần thoát ra khỏi khủng hoảng để tiếp tục đi lên và vị trí quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là trước các nước lớn, ngày càng được củng cố và phát triển.
III. VIỆC THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1. Những biến đổi lớn trong cục diện thế giới thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh
Từ giữa thập niên 1980, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu bước vào khủng hoảng nghiêm trọng và lần lượt từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa. Với sự sụp đổ của Liên bang Xôviết, cục diện thế giới đã có những thay đổi cơ bản. Hình thái thế giới chia làm hai hệ thống đối lập không còn nữa. Mâu thuẫn Đông - Tây không còn là nhân tố bao trùm quan hệ quốc tế. Nguy cơ chiến tranh thế giới giảm đi nhưng mâu thuẫn, xung đột sắc tộc, tôn giáo, xung đột khu vực vẫn nổi lên mạnh mẽ. Mỹ là siêu cường duy nhất còn lại, trong khi đó Trung Quốc và nhiều nước khác lớn mạnh cũng vươn lên khẳng định vị trí của mình. Ưu thế của siêu cường Mỹ (tuy có giảm sút), sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, sự phục hồi của Nga, thế mạnh ổn định của EU, Nhật Bản cùng sự vươn lên của Ấn Độ là những nhân tố nổi bật chi phối cục diện thế giới. Đây cũng là thời kỳ mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển mạnh, làm thay đổi cơ cấu sản xuất. Hàm lượng tri thức giữ vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế thế giới. Quá trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng.
Tình hình đó làm nổi lên một số xu thế lớn:
- Hoà bình, hợp tác và phát triển;
- Ưu tiên cho phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật;
- Đa dạng hóa quan hệ đối ngoại;
- Tăng cường liên kết khu vực và hợp tác quốc tế;
- Hợp tác giải quyết các vấn đề toàn cầu.
- Các nước lớn vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình.
- Những xu thế trên đã, đang và sẽ còn tác động mạnh đến việc hoạch định chính sách của các nước và xu hướng phát triển của các mối quan hệ trên thế giới.
2. Tình hình và sự chuyển hướng chính sách của ta
2.1. Tình hình
Từ cuối thập niên 1970 và đặc biệt là từ giữa những năm 1980, đất nước ta phải đối phó với nhiều khó khăn ở trong nước cũng như trên phương diện quốc tế: khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng kèm theo sự chống phá của các thế lực bên ngoài, đặc biệt là sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch xung quanh vấn đề Campuchia. Việc Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề mới phải giải quyết cả về lý luận và thực tiễn. Tình hình đó buộc Đảng và Nhà nước ta phải đổi mới, mở đầu là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986.
2.2. Đổi mới về tư duy, chính sách
Thực hiện công cuộc đổi mới, từ Đại hội lần thứ VI đến nay, về đối nội ta đã chuyển hướng từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; về đối ngoại, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; hội nhập kinh tế khu vực, kinh tế quốc tế theo phương châm Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, hợp tác và phát triển.
Về đối ngoại, Đại hội lần thứ VI chưa đề ra được nhiều thay đổi nhưng đã khẳng định cần “ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại”, làm cơ sở cho đổi mới tư duy và hành động.
Tháng 5 năm 1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới với chủ đề “giữ vững hoà bình, phát triển kinh tế”, khẳng định ưu tiên cao nhất của chúng ta là tạo môi trường quốc tế để phát triển , nhấn mạnh chính sách “thêm bạn, bớt thù”, đa dạng hoá quan hệ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi và đề ra nhiệm vụ trước mắt là bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, góp phần giải quyết vấn đề Campuchia. Đây là một bước lớn trong đổi mới tư duy nhận thức về tình hình thế giới, một bước chuyển hướng có tính chiến lược đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Tiếp đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI tháng 3 năm 1989 chỉ rõ: cần chuyển mạnh hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị - kinh tế phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước , nhấn mạnh “kiên trì thúc đẩy bình thường hoá quan hệ Việt - Trung”, “góp phần giải quyết vấn đề Campuchia bằng chính trị, đồng thời chuẩn bị tốt việc rút hết quân sớm trong trường hợp không có giải pháp về vấn đề Campuchia”, “xây dựng mối quan hệ mới với ASEAN”, “mở rộng và đa dạng hoá quan hệ với các nước”, “bình thường hoá quan hệ với Mỹ”.
Từ đó đến nay, cùng với quá trình nhận thức, việc đổi mới về tư duy đã có những bước tiến dài. Sự đổi mới tư duy này liên quan đến nhiều vấn đề, song có thể thấy rõ ở ba điểm lớn sau:
- Về cách nhìn nhận cục diện thế giới, xu hướng phát triển của thời đại và sự tác động đến ta, trước đây ta thường nhấn mạnh tính chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi thế giới, ba dòng thác cách mạng, đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc…; nay ta đi thẳng vào những vấn đề thực tế, khẳng định khả năng đẩy lùi nguy cơ chiến tranh thế giới tăng lên, xu thế đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình, xu thế ổn định và phát triển trở thành xu thế của thời đại. Đặc biệt Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (tháng 7 năm 2003) đã nêu rõ về mâu thuẫn thời đại: Mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là thế lực hiếu chiến mưu toan thống trị thế giới và các thế lực theo đuôi chúng, với một bên là nhân dân lao động và các lực lượng đấu tranh chống chiến tranh, chống chủ nghĩa bá quyền, bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, chủ quyền, sự bình đẳng giữa các quốc gia và lợi ích của nhân dân mỗi nước. Đây là sự đổi mới tư duy độc lập sáng tạo của Đảng ta (Trung Quốc nêu mâu thuẫn giữa đơn cực và đa cực, không nêu sự gắn bó giữa hoà bình và bình đẳng trong quan hệ quốc tế).
Cách tiếp cận của ta đối với các nhân tố bên trong và bên ngoài cũng dần được hoàn thiện, cân bằng hơn giữa cơ hội và thách thức, giữa nhân tố bên trong và bên ngoài: Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1 năm 1994) nêu ra “bốn nguy cơ”, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (tháng 7 năm 2003) nêu ra những “thuận lợi và thách thức” và đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá X (tháng 1 năm 2007) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới nêu lên “năm cơ hội - năm thách thức”.
- Về chính sách đối ngoại, khác với trước đây ta nhấn mạnh đoàn kết phe xã hội chủ nghĩa đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, nay ta chủ trương đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, hội nhập khu vực, vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình. Trước đây mối quan hệ bạn - thù, hợp tác và đấu tranh rất đơn giản, gần như một chiều. Nay ta chủ trương “nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ với mọi đối tượng” (Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, tháng 6 năm 1992); vì “trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, trong mỗi đối tác có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với ta” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, tháng 7 năm 2003); tích cực hoạt động đối ngoại trên cơ sở đường lối độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá, thực hiện hội nhập khu vực và quốc tế.
- Về an ninh quốc phòng, trước đây ta nói nhiều về sức mạnh quân sự, chuyên chính vô sản và nguy cơ chiến tranh thế giới do chủ nghĩa đế quốc gây ra, đồng thời nhấn mạnh nguy cơ bên ngoài. Từ Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta nhận định “nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi”, tuy nhiên cần cảnh giác với các nguy cơ xung đột cục bộ. Bên cạnh sức mạnh quân sự, ta nhấn mạnh cần thiết phải có ổn định chính trị, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, mối quan hệ quốc tế thân thiện, rộng mở. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, tháng 12 năm 1998 khẳng định: Các yếu tố tác động đến an ninh quốc gia từ bên trong và từ bên ngoài đều nguy hiểm, nhưng những nhân tố bên trong giữ vai trò, vị trí quyết định. Những nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia sẽ chuyển hoá trong quá trình phát triển đất nước. Vấn đề bạn, thù được đề cập uyển chuyển, bám sát vào nhiệm vụ chiến lược của ta trong giai đoạn hiện nay và biện chứng hơn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá IX (tháng 7 năm 2003) đã đưa ra quan niệm mới về đối tác, đối tượng theo nguyên tắc: những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi đối với Việt Nam đều là đối tác; những thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh; trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác, trong mỗi đối tác có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta; đồng thời nhận định: trong vài thập niên tới, ta có điều kiện hoà bình để phát triển.
Trên cơ sở đổi mới về tư duy, chính sách đó, ta đã bình thường hoá và thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, tăng cường quan hệ với EU, Nga, Nhật Bản và các nước lớn khác, tạo thế cân bằng tương đối giữa các nước lớn. Việc ta gia nhập ASEAN, APEC và các tổ chức khu vực khác là những tập hợp lực lượng mới đã góp phần củng cố thế đứng của ta trước các nước lớn. Nhờ đó chúng ta đã có điều kiện thuận lợi để tập trung vào phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, quá trình này không phải không gặp khó khăn, trở ngại do sức ỳ quán tính khá lớn từ thời kỳ thế giới chia làm hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập và cơ chế quan liêu bao cấp để lại trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Như vậy, có thể nói sau một thời gian dài chủ quan duy ý chí, thiên về sao chép kinh nghiệm và bài học của các nước khác, xử lý không đúng mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong giai đoạn 1975-1985, chúng ta đã dần tìm ra được nhiều nội hàm mới cho việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với tình hình mới ở nước ta.
2.3. Một số vấn đề tồn tại chính
Nhận thức là một quá trình, vì vậy việc chuyển biến tư duy và tổ chức thực hiện cần có thời gian. Tuy nhiên, trên một số vấn đề, sự chuyển biến này còn chậm:
- Về vấn đề tập hợp lực lượng: một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thấy hết được tính phức tạp của tình hình mới, vẫn còn tư duy theo “phe” như trước, còn ảo tưởng ở phương án liên minh theo ý thức hệ, dẫn đến cách xử lý không chuẩn hoặc cứng nhắc trong một số trường hợp với một số nước lớn.
- Về vấn đề độc lập, tự chủ và áp dụng nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”: về cơ bản, ta đã thực hiện tốt. Tuy nhiên, một đôi khi ta còn e ngại thái quá đối với nước lớn này nên có lúc đã bỏ lỡ cơ hội thúc đẩy quan hệ với nước lớn khác. Trong quan hệ phức tạp với Trung Quốc và Mỹ, trên một số vấn đề, ta cần xác định rõ hơn những điểm lợi ích cơ bản, tối thiểu “bất biến” để có thể uyển chuyển hơn trong đối sách và làm cơ sở cho việc hoạch định giải pháp lâu dài.
- Về vấn đề phối hợp đối nội và đối ngoại: trong tình hình mới, mối liên hệ chằng chịt tác động lẫn nhau giữa đối nội và đối ngoại đòi hỏi chúng ta phải có sự phối hợp tốt giữa các ngành, đặc biệt là giữa quốc phòng, an ninh, kinh tế và ngoại giao. Ta đã có nhiều nỗ lực trong việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng, song chưa có một cơ chế điều phối phù hợp để bảo đảm sự phối hợp nhịp nhàng, nhanh chóng giữa các ngành nêu trên.
- Quan hệ quốc tế của ta càng ngày càng mở rộng trên tất cả các lĩnh vực và đi vào chiều sâu đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có trình độ chuyên môn cao hơn.
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xử lý mối quan hệ với các nước lớn trong giai đoạn hội nhập mới
Dự kiến trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, về cơ bản tình hình thế giới và các mối quan hệ quốc tế vẫn sẽ biến chuyển theo các xu hướng như đã phân tích ở trên. Mối quan hệ giữa các nước lớn chủ yếu vẫn là vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau trong cùng tồn tại hòa bình. Tuy nhiên vẫn còn không ít khả năng một vài nước lớn lợi dụng thế mạnh của mình, thế hòa hoãn, thỏa hiệp giữa họ với nhau để gây chiến tranh, xung đột chống nước nhỏ hoặc yếu dưới danh nghĩa “lợi ích quốc gia”. Trong bối cảnh đó, xử lý tốt mối quan hệ với các nước lớn tiếp tục là yêu cầu bức thiết của ta nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn mới, trong đó quan hệ với Trung Quốc và Mỹ giữ vai trò hết sức quan trọng.
Có thể nói những nguyên lý, phương pháp cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị trong việc xử lý quan hệ với các nước lớn, nhưng cần được tiếp tục áp dụng một cách sáng tạo trong tình hình mới, nhất là các vấn đề sau:
3.1. Phát huy tinh thần độc lập tự chủ, xử lý hài hoà lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế
a) Nâng cao nhận thức về lợi ích dân tộc
Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và chính sách của ta là sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và hợp tác hai bên cùng có lợi. Đây là lợi ích dân tộc đồng thời là nội hàm của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Điều đó cho thấy cũng như giai đoạn trước đây, lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp của chúng ta là thống nhất.
Mặt khác, chủ nghĩa xã hội hiện nay đang ở giai đoạn thoái trào. Bản thân việc tồn tại và xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một đóng góp lớn cho chủ nghĩa xã hội trên thế giới.
Tất cả những điều trên khẳng định tính chính đáng và tính giai cấp của việc bảo vệ lợi ích dân tộc của ta.
Cần nhấn mạnh rằng ngày nay thế giới không còn chia thành hai phe đối lập nhau. Các nước lớn vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong cùng tồn tại hoà bình. Đảng ta đã chỉ rõ hai mặt đối tượng và đối tác trong quan hệ với mỗi nước lớn và chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá. Tuy nhiên đến nay một số người vẫn giữ thói quen nhìn nhận và xử lý các vấn đề với các nước lớn theo tư duy đơn giản một chiều như trước đây, do cảm tính ý thức hệ.
Trong tình hình mới, nhân tố ý thức hệ và đạo lý trong quan hệ quốc tế vẫn có tác dụng nhất định và cần được tiếp tục phát huy nhằm thúc đẩy tình đoàn kết hữu nghị với một số nước bạn bè truyền thống và thức tỉnh lương tri, công lý trong dư luận các nước lớn khác. Tuy nhiên, cũng cần ý thức rõ rằng, trước đây ý thức hệ đã không ngăn được chiến sự biên giới nổ ra ở Việt Nam và cũng không ngăn được cuộc xung đột quân sự Xô - Trung, thì ngày nay khi thế giới không còn chia làm hai phe đối lập về ý thức hệ (kể cả Trung Quốc cũng chủ trương phi ý thức hệ trong quan hệ quốc tế), chúng ta càng cần không để những định kiến về ý thức hệ làm lu mờ, buông lỏng lợi ích dân tộc chính đáng của ta.
Điều hết sức quan trọng là chúng ta cần bảo vệ và nâng cao hơn nữa sự đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong sự nghiệp chính nghĩa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân tố quyết định sự thành công này của cách mạng Việt Nam cần được biểu thị mạnh mẽ trong các thời điểm trọng yếu, nhất là trước sự đe dọa của các nước lớn đối với độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.
b) Nhìn nhận, xử lý vấn đề quan hệ với các nước lớn xuất phát từ vị trí và lợi ích dân tộc của Việt Nam, xử lý hài hoà lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế
Hiện nay, đấu tranh và thoả hiệp giữa các nước lớn rất phức tạp, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến nước ta. Do vậy, cần hết sức thận trọng và đứng trên vị trí và lợi ích của ta để nhìn nhận, xử lý các vấn đề giữa họ với nhau và với ta. Phải xử lý tốt mối quan hệ giữa bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình với việc tranh thủ các nước lớn, không vì tranh thủ hoặc vì ý thức hệ mà hy sinh quyền lợi dân tộc. Ngược lại, cũng cần linh hoạt, khéo léo để tránh đối đầu, đổ vỡ khi bảo vệ lợi ích dân tộc trước các nước lớn.
Cần tiếp tục thể hiện tính độc lập tự chủ, không đi với nước này chống nước kia, đồng thời rất cảnh giác ngăn ngừa khả năng các nước lớn thoả hiệp, mua bán, đổi chác với nhau về những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia của ta.
Mặt khác, trong các vấn đề quốc tế, dù có liên quan hoặc không liên quan trực tiếp đến ta, ta đều cần kiên trì bảo vệ nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào nội bộ của nhau, hoà bình giải quyết các tranh chấp quốc tế để ngăn ngừa các nước lớn xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta. Cần ý thức rằng ta là một nước nhỏ, hay bị nước lớn bắt nạt, nhưng bên ta còn có cộng đồng quốc tế. Bảo vệ các nguyên tắc trên chính là tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta. Việc tranh thủ các nước lớn trong các sự kiện liên quan đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước thứ ba cần được cân nhắc, xử lý khéo léo, không nên trái với các nguyên tắc trên.
3.2. Vận dụng sức mạnh tổng hợp của đất nước và của quốc tế trong quan hệ với các nước lớn
a) Phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước
Quan hệ của nước ta với các nước lớn đã đi vào giai đoạn phát triển mới, sâu rộng hơn, nhưng cũng phức tạp hơn. Các mối quan hệ chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng đan xen nhau và tác động qua lại lẫn nhau. Do đó cần tạo dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước mới có thể giành được thế chủ động trong quan hệ với các nước lớn. Sức mạnh này trước hết là sự đoàn kết nhất trí trong mục tiêu chung, đặc biệt là sự nhất trí về nhận thức và sự phối hợp nhịp nhàng giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các ngành hữu quan, giữa trung ương và địa phương. Trong thời đại toàn cầu hoá, khi các yếu tố đối nội và đối ngoại gắn chặt với nhau và có sự tham gia ngày càng lớn của nhân dân, thì việc huy động khối đại đoàn kết dân tộc cho những mục tiêu đối ngoại là cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, ngoại giao phải tăng cường thông tin, tuyên truyền và giải quyết tốt những yêu cầu thiết thực của nhân dân liên quan tới đối ngoại thì mới có thể nhận được sự tham gia ủng hộ của đông đảo nhân dân ở trong cũng như ngoài nước. Điều đó cũng đòi hỏi ngành ngoại giao phải đi sâu hoàn thiện các biện pháp, tổ chức và nhân sự để triển khai trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, tuyên truyền, lãnh sự, Việt kiều…
b) Tạo đòn bẩy về lợi ích, tạo thế đan xen về lợi ích, tạo thế cân bằng động giữa các nước lớn, tạo cơ hội đi đôi với nắm bắt cơ hội
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng. Đây vừa là một lợi thế, vừa là một giới hạn đặt ra đối với các nước lớn trong tổng thể mối quan hệ của họ với các nước khác. Nếu ta biết tăng cường một cách hợp lý các lợi ích của từng nước lớn trong quan hệ với ta, làm cho quan hệ hợp tác với các nước lớn phát triển lành mạnh thì sẽ góp phần giảm thiểu tác động của các nhân tố tiêu cực từ họ đối với ta. Đây thực chất là thông qua những nhân tố chủ quan để tạo cơ hội cho vị thế đối ngoại của đất nước. Bối cảnh hòa dịu hiện nay giữa các nước lớn là cơ hội tốt, cần nắm bắt để ta triển khai theo hướng trên.
Ta cần tận dụng mạnh mẽ hơn nữa xu thế này bằng cách tạo ra thế đan xen về lợi ích, vừa tận dụng các thế mạnh riêng của từng nước phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước, vừa gắn lợi ích của họ với việc duy trì hoà bình và ổn định ở nước ta. Đến nay, với việc mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư của một số nước lớn, ta đã bước đầu tạo được thế đan xen lợi ích, nhưng chưa có cơ chế tính toán, xem xét để bảo đảm có sự cân đối hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích chính trị và triệt để sử dụng lợi ích kinh tế (đầu tư, thương mại) làm đòn bẩy cho quan hệ chính trị và ngược lại. Ta cũng cần có cơ chế tốt hơn để xem xét cân đối hài hòa về mặt tổng thể lợi ích giữa các nước lớn.
c) Đẩy mạnh hoạt động ngoại giao tâm công với trọng tâm là các nước lớn
Để các yếu tố trên phát huy được hết hiệu quả, ta cần đẩy mạnh ngoại giao tâm công, thuyết phục dư luận, tranh thủ chính giới và các cá nhân có thế lực để tranh thủ cảm tình của dư luận, qua đó tác động vào chính sách của các nước đối với ta. Muốn vậy, ta cần có chương trình và phân vai cụ thể hơn giữa các cơ quan đối ngoại trong hoạt động với từng nước lớn, tăng cường các kênh tiếp xúc khác nhau để giúp cho các bên thông hiểu nhau hơn và phát triển tình cảm hữu nghị trong dư luận các nước.
3.3. Tăng cường các hình thức liên kết khu vực và hợp tác quốc tế, tạo thế đứng cho ta trong quan hệ với các nước lớn
Đẩy mạnh liên kết khu vực.
Hiện nay với Hiến chương ASEAN vừa được thông qua, ta đã mở rộng hợp tác với các nước ASEAN trên cả ba trụ cột: kinh tế, chính trị - an ninh và văn hóa - xã hội. Như vậy sau lĩnh vực kinh tế, ta đã có liên kết mới về vấn đề an ninh quốc phòng, dù ở mức độ thấp, là cơ sở để nước ta tăng cường hợp tác về an ninh quốc phòng với các nước Đông Nam Á, củng cố thế đứng của ta trước các nước lớn. Trên cơ sở đó, ta cần bổ sung nội hàm bằng sự hợp tác song phương để tăng cường tiềm lực quân sự của ta cũng như để giải quyết các tranh chấp, nhất là về biên giới lãnh thổ với các nước ASEAN, góp phần thúc đẩy đàm phán với Trung Quốc.
Tích cực tham gia vào các thiết chế quốc tế.
Cùng với các nước lớn, các thiết chế quốc tế cũng là những tác nhân giữ vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế. Tham gia đầy đủ và hoạt động tích cực hơn tại các tổ chức quốc tế sẽ giúp nước ta có vai trò lớn hơn trong các cơ chế quyết định chính sách quốc tế, qua đó đạt được nhiều khả năng bảo vệ lợi ích dân tộc của ta hơn, đặc biệt là trước các nước lớn. Việc tham gia Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là một kinh nghiệm tốt để ta tiếp tục mở rộng hoạt động ra các thiết chế chính trị, kinh tế quốc tế quan trọng khác. Việc tham gia đầy đủ và tích cực nói trên đòi hỏi chúng ta phải nắm vững, tiến đến sử dụng nhuần nhuyễn “luật chơi” của các thể chế quốc tế. Muốn vậy, chúng ta cần có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu về tổ chức quốc tế và các lĩnh vực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của Bộ Ngoại giao và hướng tới ứng cử vào các vị trí then chốt trong các tổ chức quốc tế.
3.4. Tăng cường thực lực, chuẩn bị cho các tình huống xấu
Tình hình thế giới trong tương lai diễn biến nhanh chóng và khó lường. Tuy hòa bình, hợp tác để tập trung phát triển kinh tế vẫn là xu hướng chủ đạo, song không loại trừ khả năng một nước lớn lợi dụng tiềm lực chính trị, kinh tế, quân sự áp đảo cũng như khả năng các nước lớn thực hiện chính sách hòa hoãn, phụ thuộc lẫn nhau để chèn ép nước nhỏ, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta. Vì vậy, chúng ta cần nâng cao cảnh giác và có bước đi thích hợp từ nay đến năm 2020 để củng cố tiềm lực của ta, không để bị động, bất ngờ trước các thách thức mới.
*
* *
Bảo đảm lợi ích dân tộc trong quan hệ với các nước lớn là một vấn đề phức tạp, khó khăn, nhưng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xử lý một cách khôn khéo, nhuần nhuyễn trong một thời kỳ đầy biến động, góp phần cực kỳ quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thời gian đã trôi qua và thế giới đã chứng kiến nhiều sự thay đổi. Nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao nói chung và về bảo đảm lợi ích dân tộc trong quan hệ với các nước lớn nói riêng là những bài học quý báu cho đến nay vẫn còn giá trị. Bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là sáng tạo. Chúng ta cần nắm vững những nguyên lý trên của Người và bổ sung cho nó những nội hàm mới trong tình hình mới để tiếp tục bảo đảm lợi ích dân tộc của ta, đồng thời phát triển quan hệ với các nước, đặt biệt là các nước lớn, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ “ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
ĐỖ ĐỨC HINH
Nguyên Phó Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh
tại Phủ Chủ tịch
Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là một khoa học, vừa là một “cẩm nang” cho hoạt động thực tiễn. Việc nghiên cứu, tổng kết rút ra những bài học và hệ thống những quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống nước ta hôm nay phải là một quá trình. Công việc đó được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, được lý giải ở nhiều lĩnh vực khác nhau và được đánh giá, tổng kết ở nhiều cấp độ khác nhau. Bởi vì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh không bị giới hạn bởi một lĩnh vực cụ thể nào, không nhằm giải thích riêng cho một vấn đề riêng biệt nào, mà tư tưởng Hồ Chí Minh là một tổng thể, một hệ thống các quan điểm, các vấn đề bao trùm lên tất cả các hoạt động của đời sống xã hội. Việc tìm hiểu những quan điểm trong tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh với khái niệm ban đầu là hệ thống các quan điểm, các vấn đề về đường lối đối ngoại, về hoạt động ngoại giao, về hợp tác phát triển, bao gồm cả đường lối chiến lược, sách lược, phương pháp, nghệ thuật, phong cách và phong thái Hồ Chí Minh... Chúng ta cần tiến hành một cách công phu, đầy đủ các quá trình, và phải là một công trình nghiên cứu toàn diện. Trong bài viết tham gia Hội thảo “Vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập quốc tế” hôm nay, chúng tôi chỉ xin tiếp cận một vấn đề cụ thể, đó là: Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong điều kiện hiện nay.
1. Chúng ta đều biết “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là một quan điểm lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể nói đây là một quan điểm thống nhất, xuyên suốt, chi phối nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề khác nhau, trong đó có lĩnh vực đối ngoại và hoạt động ngoại giao. Khi nghiên cứu tư tưởng đối ngoại của Hồ Chí Minh, chúng ta càng thấy rõ rằng: quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vừa có tầm chi phối lớn lại vừa có ý nghĩa giải quyết các vấn đề cụ thể và đạt hiệu quả trong đường lối đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, xuất phát từ một luận điểm quan trọng: “muốn cứu nước, giải phóng đồng bào phải tiến hành cuộc cách mạng đánh đuổi thực dân giành lại độc lập cho dân tộc”, Hồ Chí Minh nhận thức được rằng chỉ với lòng yêu nước, căm thù giặc thì không thể giải quyết được vấn đề độc lập dân tộc. Bằng chứng là các phong trào chống Pháp của nhân dân, của các sĩ phu yêu nước, kể cả những ông vua yêu nước và một bộ phận quan lại của triều Nguyễn, đều thất bại và bị dìm trong biển máu. Khi tiếp xúc với những khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của Đại cách mạng Pháp, Hồ Chí Minh nhận thức rằng: còn có một thế giới khác, thế giới của chủ nghĩa tư bản nhưng văn minh hơn những gì đang diễn ra ở xứ Đông Dương này! Và Người từ giã Tổ quốc, rời xa quê hương sang phương Tây tìm đường cứu nước. Đến phương Tây hòa mình trong quần chúng lao khổ, học tập và rèn luyện trong phong trào công nhân các nước tư bản Âu - Mỹ, Hồ Chí Minh mới vỡ ra rằng: “ở Pháp cũng có người nghèo như ta”, “trên đời này chỉ có hai giống người đó là những người bị áp bức và những kẻ đi áp bức” và “chỉ có một thứ tình là tình hữu ái giai cấp”. Hồ Chí Minh đã nhận thức được rằng, cách mạng Việt Nam không thể tách rời khỏi cách mạng thế giới. Và Người giải thích bằng hình tượng con chim: Cách mạng thế giới như con chim có hai cánh, một cánh là phong trào công nhân ở chính quốc và một cánh là phong trào cách mạng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc. Thành lập Hội liên hiệp dân tộc thuộc địa, ra báo Le Paria (Người cùng khổ) rồi thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp, tranh thủ các diễn đàn và báo chí tố cáo chủ nghĩa thực dân tại các thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh… và lần đầu tiên người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có “tiếng kêu” giữa chính trường quốc tế, đó là “Bản yêu sách tám điểm” của nhân dân Việt Nam gửi đến Hội nghị Vécxây (1919). Tuy không ảo tưởng vào dã tâm của các nước đế quốc nhưng đó là hành động cần có để thế giới biết đến xứ An Nam, đến dân tộc Việt Nam đang bị áp bức, đang khát khao vùng lên giải phóng để giành độc lập cho mình. Mãi đến khi đọc được “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin, đăng trên báo Nhân đạo, Hồ Chí Minh như bừng tỉnh, Người đã từng nói: Ngồi một mình trong phòng mà tôi muốn hét lên: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là con đường giải phóng của chúng ta… Từ đó Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn cứu nước giải phóng đồng bào không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản, nghĩa là phải đặt phong trào giải phóng dân tộc trong phạm trù của cách mạng vô sản, nhưng theo Hồ Chí Minh ở các nước thuộc địa và phụ thuộc thì nhiệm vụ dân tộc giải phóng vẫn phải là nhiệm vụ hàng đầu… Như vậy quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” được hình thành ở Hồ Chí Minh không chỉ bằng lý luận, bằng học thuyết mà bằng cả kết quả của những hoạt động thực tế, tổng kết thực tiễn, và sự nhạy bén của một tư duy xuất chúng. Để vận dụng và phát huy được giá trị của “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” vào thực tế cách mạng Việt Nam thì nhất thiết phải có chính đảng của giai cấp công nhân và phải đạt được mục tiêu của mọi cuộc cách mạng đó là: chính quyền cách mạng. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã thu hút được sự “ủng hộ Đảng, đi theo Đảng” của toàn thể dân tộc. Tháng 8 năm 1945 dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong phạm vi cả nước. Và 14 giờ ngày 2 tháng 9 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch lâm thời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và thật sự đã trở thành nước tự do độc lập”. Cũng chính từ ngày này, năm ấy (1945), quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” đã được vận dụng vào thực tế cách mạng một cách toàn diện từ mục tiêu cách mạng, phương pháp cách mạng đến vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng, đặc biệt là trong chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ này. Giai đoạn 1945-1946 là giai đoạn hết sức đặc biệt trong lịch sử Việt Nam hiện đại, và càng rất đặc biệt đối với chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh. Đó là giai đoạn cực kỳ phức tạp đòi hỏi phải vững vàng về nguyên tắc chiến lược nhưng đồng thời phải rất nhạy bén, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, vừa có tầm nhìn vừa có khả năng quyết đoán kết hợp với trình độ “biến hóa” để tạo thời cơ và tận dụng mọi thời cơ. Các kết quả của công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao giai đoạn 1945-1946 đã trở thành những bài học kinh điển cho các giai đoạn sau này và kể cả hôm nay. Bài học trước hết và quan trọng nhất chính là “Vấn đề độc lập dân tộc là vấn đề sống còn”, phải được xem là nguyên tắc bất di bất dịch. Độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là hòn đá tảng của mọi chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao của chúng ta. Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta, quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Hồ Chí Minh đã được vận dụng và phát huy cao độ trong mọi hoạt động, trong đó có công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta. Một
số bài học lớn được rút ra, đó là: vững vàng với nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất Tổ quốc; coi đối ngoại và hoạt động ngoại giao là một mặt trận để tập hợp lực lượng quốc tế, có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược, sách lược, có phương pháp và bước đi phù hợp; quan điểm hòa bình hữu nghị luôn luôn được nâng cao và phát huy trong mọi điều kiện, mọi tình huống, coi trọng đối thoại, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lợi ích của nhau, đặc biệt là các giá trị văn hóa của các dân tộc khác; độc lập, tự chủ, tin vào sức mạnh của dân tộc mình, khôn khéo vận dụng những kinh nghiệm của cha ông, đồng thời nhạy bén học hỏi những bài học mới của thế giới; từng bước và không ngừng nâng dần các quan hệ ngoại giao từ công nhận và ủng hộ lẫn nhau đến quan hệ hợp tác phát triển và hội nhập quốc tế.
Trong thời kỳ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, vừa là người phụ trách chính sách đối ngoại và Bộ Ngoại giao của nước ta. Hồ Chí Minh không những là người đã xây dựng nên hệ thống các quan điểm về đối ngoại và ngoại giao Việt Nam, mà còn là một nhà ngoại giao lớn rất thông thái và uyên bác, rất lịch thiệp và văn hoá, rất gần gũi, thân ái và bao dung, nhưng cũng rất cương quyết và mạnh mẽ. Tư tưởng đối ngoại và những bài học kinh nghiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao vẫn là những nguyên lý, nguyên tắc cơ bản và là những bài học kinh nghiệm lớn cho chúng ta hôm nay.
2. Những năm đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi như: Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, một thế giới đa cực đang hình thành. Sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới, điển hình là Trung Quốc đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khu vực và thế giới. Hàng loạt vấn đề lớn như: dịch bệnh, môi trường, khủng bố, mâu thuẫn tôn giáo, mâu thuẫn sắc tộc, rồi vấn đề năng lượng cũng như sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật… thực sự đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của bất cứ một quốc gia nào, nó đòi hỏi phải có sự tham gia quốc tế, phải có sự đồng thuận, cùng chia sẻ những khó khăn thách thức, cũng như sự bảo đảm cùng có lợi cho mọi quốc gia. Khi khoảng cách không gian và thời gian không còn là trở ngại hay ưu thế của bất cứ quốc gia nào, thì công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao đang trở thành một lĩnh vực hết sức quan trọng, nó có liên quan và chi phối đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó phải kể đến những vấn đề rất nhạy cảm như: kinh tế, quân sự, chính trị, và văn hóa, xã hội. Trong điều kiện đó việc vận dụng quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Hồ Chí Minh và những kinh nghiệm ngoại giao của Người vào hoạch định các chính sách đối ngoại, hoạt động ngoại giao để mang lại hiệu quả cao nhất là rất cần thiết. Có thể vận dụng để áp dụng và nghiên cứu sáng tạo ở một số nội dung chính sau đây:
Một là: Quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là một quan điểm lớn có tính bao quát và xuyên suốt, vận dụng quan điểm này vào công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao trong điều kiện hiện nay là cần thiết và cần phải quán triệt một cách thật sâu sắc. Quan điểm này trước hết khẳng định mục tiêu và con đường tất yếu của cách mạng nước ta, đường lối chiến lược, sách lược và những vấn đề cơ bản như độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, một nước Việt Nam thống nhất… Quan điểm này không giới hạn việc tham gia các tổ chức quốc tế cũng như các hoạt động ngoại giao, nhưng không được làm phương hại đến lợi ích của quốc gia dân tộc, không được làm mất ổn định chính trị và xã hội, không được làm ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Với hơn 170 quốc gia có quan hệ ngoại giao và hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, chưa kể hàng trăm tổ chức quốc tế có vai trò và tiếng nói của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan điểm này sẽ là cơ sở vững chắc cho sự mở rộng không ngừng và sự phát triển về chiều sâu trong các quan hệ quốc tế của Việt Nam. Có thể
nói qua thử thách của hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, “Độc lập dân tộc” là một khao khát, là sự phấn đấu nỗ lực của biết bao thế hệ cha ông mới giành được, còn “Chủ nghĩa xã hội” là lý tưởng tươi đẹp, là con đường Hồ Chí Minh đã tìm ra và dẫn dắt dân tộc ta đi những chặng đầu tiên. Do vậy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” vẫn vừa là mục tiêu, mục đích vừa là nguyên tắc và phương pháp cho hoạt động ngoại giao của chúng ta, nhất là trong điều kiện hiện nay.
Hai là: Quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” được vận dụng ở một nội dung nữa là: “Ngoại giao là một mặt trận”. Đặt vấn đề như vậy để thấy rõ tầm quan trọng của công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói: “Ngoại giao là một mặt trận không có tiếng súng nhưng không kém phần gay go và quyết liệt”, cán bộ hoạt động trên mặt trận ngoại giao phải có lập trường, quan điểm vững vàng, phải có bản lĩnh và hết sức linh hoạt, sáng tạo. “Coi ngoại giao là một mặt trận kể cả trong điều kiện hoà bình” có ý nghĩa là đặt ngoại giao ngang hàng với các hoạt động nhà nước khác như: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội. Ngoại giao phải nằm trong một chỉnh thể hoạt động nhà nước, phải là một nhiệm vụ cách mạng thường xuyên, phải có đóng góp vào chiến lược phát triển cách mạng chung của cả nước. Nhìn vào những biến cố của thế giới mấy chục năm gần đây chúng ta cần thấy rõ, ngoại giao ngày càng chiếm giữ vị trí quan trọng, ngoại giao không chỉ chi phối các lĩnh vực khác thông qua việc cung cấp thông tin, giải mã tình thế “tạo thời cơ” hoặc vô hiệu hoá các “thách thức” có chiều hướng phát triển thành “nguy cơ”, mà ngoại giao còn có quan hệ biện chứng và thúc đẩy các lĩnh vực đó phát triển. Do vậy Đảng và Nhà nước cần đầu tư cho việc nghiên cứu xây dựng những chiến lược ngoại giao chung, các chiến lược ngoại giao khu vực hoặc từng đối tượng cụ thể kể cả trước mắt và lâu dài. Chúng ta phải hiểu rằng trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, ngoại giao đã và đang phát huy rộng rãi khả năng và ưu thế của mình. Trong kháng chiến chống Pháp, Bác Hồ có nói: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. 18 Nhưng trong điều kiện hiện nay, ngoại giao đã có những đóng góp rất hiệu quả, làm cho “cái chiêng” đó to ra và phát triển không ngừng. Đó là không ngừng mở rộng quan hệ “làm bạn” với tất cả các nước, đồng thời không ngừng phát triển các quan hệ bình thường thành các “đối tác kinh tế”, “các đối tác hợp tác lâu dài”, các “đối tác chiến lược”… Đây chính là những nội dung mới của “mặt trận ngoại giao” dưới tác động của quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong thời kỳ mới này.
Ba là: Quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được vận dụng để làm sáng tỏ đường lối ngoại giao của chúng ta là thống nhất, trước sau như một vì hoà bình, hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc. Dân tộc Việt Nam là dân tộc có ý chí quật cường, có truyền thống chống ngoại xâm rất oanh liệt, bất khuất và không bao giờ chịu thất bại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những câu nói thể hiện đầy đủ tinh thần đó như trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập ấy” 19 hay trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19 tháng 12 năm 1946: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” 20 , hoặc trong lời kêu gọi ngày 17 tháng 7 năm 1966, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa... song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do” 21 Quyết chiến là như vậy, nhưng dân tộc Việt Nam không phải là một dân tộc hiếu chiến, ngược lại Việt Nam luôn mong muốn hoà bình, yêu chuộng hoà bình và muốn giải quyết các vấn đề mâu thuẫn bằng đàm phán hoà bình. Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh điều đó: Lý Thường Kiệt sau khi đánh tan quân Tống liền sai sứ giả dâng lễ và cầu hoà, Lê Lợi đánh bại quân Minh nhưng lại cấp đủ xe, ngựa và lương thảo cho bại quân an toàn rút về nước, Quang Trung sau khi đại phá quân Thanh cũng cử thái tử sang tận “Quý quốc” cầu hoà… bởi chúng ta yêu hoà bình, bao dung và trọng lẽ phải. Trong cuộc đối đầu với hai đế quốc to cũng vậy, chỉ cần nghiên cứu một cách đầy đủ những tài liệu như Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3 năm 1946 và Tạm ước 14 tháng 9 năm 1946 sẽ thấy rõ “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng” như thế nào. Nhân nhượng đến cả lợi ích cuối cùng có thể để đổi lấy hoà bình cho cả đôi bên chứ không phải chỉ cho riêng mình. Hoặc trong các bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho các đời tổng thống Mỹ từ năm 1945 đến 1969 chúng ta càng thấy rất sâu sắc thái độ “nhân nhượng có nguyên tắc” để đổi lấy hoà bình, chấm dứt chiến tranh như thế nào. Và ngay cả khi cuộc chiến đang diễn ra quyết liệt Hồ Chí Minh vẫn luôn kêu gọi đối phương và để ngỏ khả năng kết thúc chiến tranh, đàm phán hoà bình. Hiệp định Giơnevơ (1954) và Hiệp định Pari (1973) chính là kết quả của thái độ khoan dung và mục tiêu hoà bình cho tất cả các dân tộc của Hồ Chí Minh. Vận dụng nguyên tắc hoà bình, hữu nghị và đoàn kết giữa các dân tộc trong điều kiện hiện nay là phải làm cho bạn bè và nhân dân thế giới hiểu biết các truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thấy rõ tình yêu hoà bình luôn gắn liền với độc lập tự do của dân tộc ta, làm cho bè bạn năm châu hiểu rõ văn hoá Việt Nam, một nền văn hoá chứa đầy các giá trị nhân văn, hoà hiếu, một nền văn hoá yêu thương con người, luôn lấy con người làm trọng tâm để ứng xử với tự nhiên, với xã hội và với chính con người. Làm tốt nội dung này, chúng ta sẽ có nhiều bè bạn hơn, niềm tin quốc tế đối với chúng ta sẽ cao hơn, và tiếng nói của Việt Nam trên trường quốc tế, trong các tổ chức quốc tế cũng sẽ có tầm ảnh hưởng lớn hơn.
Bốn là: Quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” vận dụng trong điều kiện hiện nay còn cần phải làm sáng tỏ những giá trị tinh thần của ngoại giao Việt Nam, làm nổi bật nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh. Chúng ta đều biết rằng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, chúng ta đã xây dựng được những mối quan hệ
quốc tế cực kỳ quý báu, chúng ta có đồng chí gắn bó lâu dài, chúng ta có láng giềng thân thiết, chúng ta có bè bạn ở khắp năm châu bốn biển. Trong những lúc gian nan nhất chúng ta có cả loài người tiến bộ sát cánh, những tiếng hô, những khẩu hiệu, những lời chia sẻ thấm đẫm tình người như: “Vì Việt Nam Cuba sẵn sàng hiến cả máu mình”, “Hãy chấm dứt chiến tranh Việt Nam”, “Việt Nam là lương tri, là phẩm giá của nhân loại”, “Việt Nam, có chúng tôi bên cạnh các bạn”… Có thể nói, giá trị tinh thần của ngoại giao Việt Nam là giá trị chính nghĩa và nhân đạo. Trong Thư Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Than ôi , trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”. 22 Hay trong thư gửi Tổng thống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ: Này tổng thống Giônxơn, hãy nói cho thế giới biết ai mang quân đến xâm lược Việt Nam, ai tàn sát trẻ em và những người vô tội Việt Nam?... Ngày nay trong hợp tác phát triển, chúng ta cũng mong rằng một sự “hợp tác thành thật” cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau, không lợi dụng hợp tác để phá hoại, lật đổ và “diễn biến hoà bình”. Đồng thời cần làm sáng rõ nghệ thuật ngoại giao Việt Nam mà Hồ Chí Minh là một tiêu biểu. Có thể có nhiều nội dung đã trở thành bài học, nhưng có hai điểm rất cần phải làm sáng rõ: Một là “Sự linh hoạt trong ứng xử tình thế”. Nhớ lại thời gian Bác dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ sang thăm Pháp ngày 31 tháng 5 năm 1946, trong lúc chia tay, Người dặn dò quyền Chủ tịch nước - cụ Huỳnh Thúc Kháng một câu ngắn gọn: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Một câu ngắn gọn đó bao gồm cả nguyên tắc, phương châm, phương pháp và nghệ thuật xử lý tình huống đang rất phức tạp lúc bấy giờ. Trong điều kiện ngày nay, tình thế cũng nhiều phức tạp và ngày càng có tính đan xen đòi hỏi phải có sự linh hoạt và tinh tế. Đương nhiên để xử lý được đòi hỏi phải có bản lĩnh chính trị cao, có nghiệp vụ chuyên môn giỏi và đặc biệt phải có sự am hiểu sâu sắc về văn hoá chẳng những của dân tộc mình mà cả của đối tác là các quốc gia, dân tộc khác, chỉ có như vậy mới làm chủ được tình thế và mới xử lý được theo nguyên tắc “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Hồ Chí Minh là một điển hình. Hai là “Phải luôn luôn sáng tạo”, bởi vì không có cái gì là bất biến cả, bài học kinh nghiệm, kể cả các nguyên lý, nguyên tắc cũng cần phải được bổ sung, hoàn thiện không ngừng. Muốn bổ sung, muốn có cái mới nhất định phải có sáng tạo. Sáng tạo là một nguyên tắc của sự tiến bộ và phát triển. Khi nói đến vận dụng lý luận hay học hỏi kinh nghiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc “phải sáng tạo”. Muốn có những nhà ngoại giao tài ba, muốn có những chuyên gia hoạt động quản lý nhà nước về đối ngoại nhất định phải khuyến khích và nuôi dưỡng sự sáng tạo trong công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao. Có như vậy chúng ta mới làm phong phú được nội dung của quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” và mới bảo đảm cho tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại nói riêng và di sản tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung đồng hành được với thời đại.
Tuy chỉ là một quan điểm trong nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, nhưng để trình bày quan điểm “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong công tác đối ngoại và hoạt động ngoại giao một cách đầy đủ và sâu sắc, vẫn cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện và kỹ lưỡng hơn.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
PGS. TS. LÊ VĂN YÊN
Trưởng Ban Biên tập sách Đảng
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, một nhà yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào giải phóng dân tộc. Người tượng trưng cho sự kết hợp hài hoà tinh hoa của dân tộc Việt Nam với tinh hoa văn hoá của nhân loại, tượng trưng cho sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Người suốt đời hy sinh phấn đấu không chỉ cho độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, mà còn đấu tranh không mệt mỏi cho sự đoàn kết, tình hữu nghị giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới. Những giá trị tư tưởng của Người là những cống hiến lớn lao cho cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Người được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn”. Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 đã đánh giá: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội... và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. 23
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một tư tưởng lớn trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tiễn cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Người đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc. Tình hình thế giới và trong nước hiện nay có những chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc. Sự hội nhập, liên kết, hợp tác và đấu tranh kinh tế giữa các nước trong mối quan hệ đa phương, đa cực vừa tạo ra những thuận lợi, vừa nảy sinh những khó khăn, thách thức gay gắt, vừa là thời cơ, vừa là nguy cơ đối với các quốc gia dân tộc. Tình hình trên đặt ra cho Đảng và dân tộc ta những vấn đề lớn trong việc phát triển đất nước trong xu thế chung của thế giới. Một trong những nội dung quan trọng trong giai đoạn hiện nay là vận dụng tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Hồ Chí Minh một cách sáng tạo và phù hợp.
1. Phải xác định rõ mục tiêu của cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay
Mỗi giai đoạn cách mạng có một mục tiêu chiến lược. Mục tiêu đó quy định toàn bộ nội dung, phương pháp hoạt động của một chính đảng, một nhà nước. Suốt đời, Hồ Chí Minh dành phần lớn trí tuệ, tâm sức của mình và hướng sự nỗ lực trên phạm vi quốc gia và quốc tế cho mục tiêu độc lập, tự do của dân tộc ta và đoàn kết, hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc trên thế giới. Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn lại: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. 24
Hiện nay, đất nước ta chuyển sang giai đoạn mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh phải được coi là mục tiêu hàng đầu. Do vậy, cần khai thác mọi khả năng có thể có trên phạm vi quốc gia và quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, với những quan hệ đa chiều nhằm xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Từ mục tiêu đó, chúng ta phải gắn kết lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế, phải có những chủ trương, chính sách đúng đắn mới có thể tranh thủ và tận dụng được mọi khả năng, cơ hội để phát triển. Nếu như đối tượng đấu tranh trước đây là bọn thực dân, đế quốc xâm lược, thì đối tượng tranh đấu hiện nay là nghèo nàn và lạc hậu. Những thập niên trước, thiên tài của Hồ Chí Minh là đã khơi dậy được ở dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa nỗi nhục mất nước, nỗi đau nô lệ, thức tỉnh và làm bừng lên ý chí độc lập, tự do, đánh thắng đế quốc, thực dân, phá sập hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc; thì ngày nay chúng ta cần khơi dậy ở dân tộc ta cũng như các dân tộc khác nỗi nhục nghèo nàn, nỗi đau lạc hậu, tăng cường tinh thần đoàn kết, hợp tác giữa các dân tộc cùng vươn tới hoà bình, ấm no, hạnh phúc và văn minh, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa cường quyền, của sự can thiệp và áp đặt từ bên ngoài.
Đã đến lúc, bằng mọi cách, bằng mọi kênh thông tin, chúng ta phải tập trung làm rõ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nắm chắc mục tiêu đó, cần triển khai đồng bộ các chính sách, các giải pháp trên cả bình diện quốc gia và quốc tế về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để làm cho mục tiêu sống động đó thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm và suy nghĩ của mọi người Việt Nam và bạn bè quốc tế. Thực hiện tốt nhiệm vụ của công tác đối ngoại mà Đại hội lần thứ X của Đảng đã nêu: “giữ vững môi trường hoà bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” 25 .
2. Phải mở cửa, hội nhập với cộng đồng quốc tế, vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình
Một quan điểm lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là coi cách mạng một nước là một bộ phận của cách mạng thế giới. Nhiều lần Người nói, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, ai làm cách mạng trên thế giới đều là bạn của Việt Nam. Quan điểm đó thể hiện, một mặt, cách mạng một nước nhận được sự đoàn kết, ủng hộ của cách mạng thế giới, mặt khác, cách mạng một nước có nghĩa vụ đóng góp vào sự phát triển của cách mạng thế giới. Hoạt động đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh trước đây là gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế, tranh thủ được sự giúp đỡ quốc tế, nhất là về tư tưởng, lý luận, chính trị và kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, tranh thủ được sức mạnh của thời đại cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám không lâu, Người đã nêu rõ: Việt Nam muốn “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. 26 Như thế, quan điểm mở cửa, hội nhập với thế giới, làm bạn với các nước đã có ở Hồ Chí Minh từ rất sớm.
Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng quan điểm đó của Người, chúng ta mở cửa, hội nhập, là bạn của tất cả các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển, với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế. Cái khác của mở cửa, hội nhập hiện nay so với trước đây như Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ ra là: “Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất.
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” 27 , đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Đa dạng hoá là triển khai hợp tác trên nhiều lĩnh vực, cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, cả về mặt đảng, nhà nước và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ với nhiều hình thức linh hoạt, trong đó kinh tế là ưu tiên. Đa dạng hoá quan hệ với các nước để phát triển nhanh kinh tế, rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến, tránh tụt hậu, bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc gia. Đa phương hoá quan hệ quốc tế là mở rộng quan hệ với tất cả các nước vì lợi ích hòa bình, độc lập và phát triển, chú trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng và trong khu vực, tạo môi trường hòa bình và ổn định lâu dài cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong đa phương hoá quan hệ quốc tế, chúng ta cần coi trọng mở rộng quan hệ với các nước lớn, các trung tâm chính trị, kinh tế lớn, các tổ chức quốc tế có tính toàn cầu..., vì đó là những nhân tố có ảnh hưởng và tác động đáng kể đến an ninh và phát triển của khu vực và của nước ta.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong mở cửa và hội nhập với thế giới là phải thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, phải giữ vững và phát huy được cốt cách và truyền thống Việt Nam, phải làm cho nhân tố Việt Nam phát huy trên trường quốc tế. Nâng cao uy tín Việt Nam đối với quốc tế, đồng thời phải bảo đảm các nguyên tắc: kết hợp lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế, bình đẳng, cùng có lợi, bảo đảm độc lập, chủ quyền dân tộc. Những nguyên tắc này sẽ chỉ đạo toàn bộ quá trình giải quyết các mối quan hệ giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế; cho phép tìm kiếm, phát huy cái thống nhất, cái tương đồng; khắc phục cái mâu thuẫn, cái dị biệt, cùng các quốc gia phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, sự tuỳ thuộc lẫn nhau để phát triển trở thành quy luật chi phối quan hệ giữa các quốc gia. Vì thế, tăng cường đoàn kết, hợp tác quốc tế, phát huy sức mạnh nội sinh đồng thời tranh thủ sức mạnh của thời đại cần phải được đặc biệt chú trọng.
Mở cửa, hội nhập với cộng đồng quốc tế, chúng ta chủ trương hướng tới tương lai, tạo nên sự tin cậy với các nước, nhất là những nước đã có thời kỳ quan hệ với Việt Nam không được trôi chảy. Nhưng chúng ta kiên định mục tiêu của đất nước và mục tiêu của thời đại, chống sự “hội nhập” vô nguyên tắc, hội nhập đi đến hoà tan, đánh mất chủ quyền và bản sắc dân tộc. Thế giới ngày nay là hoà bình, hợp tác và phát triển, đó vẫn là xu thế lớn, những các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt, các giai cấp đối kháng vẫn tồn tại, vấn đề đấu tranh giai cấp và tính giai cấp trong quan hệ quốc tế vẫn diễn tiến dưới những hình thức và biểu hiện mới. Giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, quá trình hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình tiếp tục diễn ra. Trong giai đoạn hiện nay cần tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới; chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan đến vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của mỗi nước. Vì lợi ích chung của cách mạng thế giới, Việt Nam góp phần cùng với nhân loại tiến bộ đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của các dân tộc, đấu tranh cho hoà bình, ổn định và phát triển, chống lại mọi sự nô dịch, áp bức và bất công.
Hiện nay, nổi lên nhiều vấn đề toàn cầu liên quan đến sự sống còn và phát triển của các quốc gia như: hoà bình, nguy cơ chiến tranh hạt nhân huỷ diệt, môi trường sinh thái, dân số, đói nghèo, bệnh tật, v.v., đòi hỏi phải có sự hợp tác tham gia của nhiều quốc gia dân tộc mới có thể giải quyết được. Hội nhập với thế giới, Việt Nam tích cực tham gia vào việc giải quyết những vấn đề đó, vì đây vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là nhiệm vụ dân tộc.
3. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phải nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường
Đây là một quan điểm và nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Những năm bôn ba tìm đường cứu nước và tạo dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Người đã nắm được bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã xây dựng được mối quan hệ quốc tế rộng lớn, làm hậu thuẫn vững chắc cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã minh chứng khi nào không quán triệt đầy đủ quan điểm độc lập, tự chủ thì cách mạng gặp khó khăn, và khi nào thực hiện tốt việc kết hợp độc lập tự chủ, tự lực tự cường và đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì cách mạng gặp thuận lợi và làm nên những thắng lợi vẻ vang. Điển hình như cuộc Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, góp phần vào sự nghiệp chung của nhân dân thế giới là xoá bỏ chủ nghĩa thực dân.
Trước kia đã như vậy, hiện nay càng phải như vậy. Không ai nghĩ và làm thay cho chúng ta, không thể trông chờ viện trợ, cho không từ nước ngoài. Hiện nay, viện trợ, hợp tác, làm ăn với nhau đều phải “có đi có lại”, “các bên cùng có lợi” và bình đẳng, nhất thiết không thể trông chờ vào “lòng tốt” của chủ nghĩa đế quốc. Chúng ta xây dựng đất nước giàu mạnh, phải bằng chính sức lực và trí tuệ của mình, cũng giống như trước đây Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta “công việc của ta phải do ta làm lấy”, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Đương nhiên, chúng ta cần hiểu đúng tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường. Độc lập tự chủ không phải là biệt lập và cô lập, co mình lại, khép kín, không quan hệ, hẹp hòi, biệt phái. Trong giai đoạn hiện nay, không một nước nào có thể phát triển mà không mở cửa, hội nhập với thế giới. Trước đây, Hồ Chí Minh đã khéo kết hợp yếu tố dân tộc với yếu tố quốc tế để đấu tranh giành độc lập, tự do, ngày nay chúng ta cũng làm như vậy. Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, chúng ta phải đặc biệt coi trọng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp các yếu tố dân tộc và quốc tế, các yếu tố truyền thống và thời đại, sử dụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước giàu mạnh, và luôn luôn làm tròn nghĩa vụ quốc tế của mình đối với các nước anh em và bầu bạn.
Càng mở cửa, hội nhập, càng mở rộng quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế, chúng ta càng phải giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, không lệ thuộc, ỷ lại vào bên ngoài. Trong khi mở cửa, hội nhập, phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế, thực hiện phương châm là bạn của tất cả các nước, cần giữ vững các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Khai thác tối đa mọi lợi thế và nguồn lực của đất nước là điều kiện cơ bản để mở rộng quan hệ đoàn kết, hợp tác quốc tế có hiệu quả. Có độc lập tự chủ mới đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế có hiệu quả; đa dạng hoá, đa phương hoá tốt sẽ góp phần củng cố, tăng cường thế độc lập tự chủ của chúng ta. Đó là hai mặt của một vấn đề, chúng tác động qua lại và quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Hồ Chí Minh, chúng ta thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển, phải coi trọng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
4. Xây dựng Đảng vững mạnh làm hạt nhân đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế
Đây là quan điểm và là nguyên lý cực kỳ quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bảy mươi chín năm qua, Đảng ta đã thực hiện đúng tư tưởng đó, đã hoàn thành được những yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra cho từng thời kỳ. Ngày nay, công tác xây dựng Đảng càng phải ngang tầm với những đòi hỏi của thời kỳ mới, tập trung ở ba vấn đề chủ yếu sau:
Về bản chất và tính tiên phong của Đảng . Trước đây, trong quá trình xây dựng Đảng ta, Hồ Chí Minh rất chú ý xây dựng bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng . Bản chất của Đảng được Đảng ta khẳng định: Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Tính tiên phong của Đảng là trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình hình trong nước và thế giới dù khó khăn phức tạp đến đâu, Đảng cũng vững vàng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Đảng phải đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương đó bằng việc đảng viên phải gương mẫu tiên phong đi đầu.
Hiện nay, chúng ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề trên lại càng phải được coi trọng. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập với thế giới, chúng ta phải kiên định mục tiêu và con đường đã lựa chọn: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các Đại hội lần thứ VII, VIII, IX và X của Đảng đều khẳng định: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Bởi vì, chủ nghĩa Mác - Lênin cho đến nay vẫn là học thuyết cách mạng và khoa học của thời đại chúng ta, vẫn là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân, là kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, là tư tưởng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân, vì hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc, vì sự phát triển các giá trị văn hoá và nhân văn của thời đại. Vì vậy, phải kiên định và vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát đầy đủ từ thực tiễn Việt Nam và tình hình quốc tế, trên cơ sở đó, xây dựng đường lối, chủ trương đối ngoại một cách đúng đắn và có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cho công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh.
Về nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và công tác quần chúng đã được các Đại hội Đảng trong những năm đổi mới bổ sung khá đầy đủ. Đảng muốn vững mạnh, thì Đảng phải trong sạch, nhất là trong điều kiện Đảng nắm chính quyền. Vấn đề phẩm chất của đảng viên, vấn đề giữ gìn sự trong sạch của Đảng, chống lại nguy cơ quan liêu, tham nhũng, thoái hoá, biến chất của một số không nhỏ đảng viên là những vấn đề Đảng cần quan tâm sâu sắc trong giai đoạn hiện nay. Cần phải có những biện pháp về tư tưởng và tổ chức để kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên - những tế bào của Đảng. Đất nước đã chuyển sang thời kỳ mới với nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đòi hỏi chất lượng của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải được nâng cao.
Để bảo đảm Đảng “là trí tuệ, là văn minh”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, cần phải bổ sung thêm những chuẩn mực mới. Nếu trước đây tiêu chuẩn bao trùm của tổ chức đảng và người đảng viên là xả thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thì tiêu chuẩn chủ yếu hiện nay ngoài tinh thần hy sinh cao cả trên, phải có sự hiểu biết khoa học - kỹ thuật, biết làm giàu cho đất nước và cho bản thân bằng trí tuệ và lao động chân chính của tổ chức và cá nhân theo đúng luật pháp. Trước đây, Đảng ta và Hồ Chí Minh lãnh đạo cách mạng chủ yếu thông qua Mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất. Mọi người đến với Đảng, với cách mạng trước hết là đến với các hội quần chúng trong Mặt trận. Giờ đây, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại cần tập trung giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận nhằm tạo khối đại đoàn kết, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế vững chắc. Có như vậy, Đảng ta mới hoàn thành được nhiệm vụ to lớn của dân tộc và của thời đại. Trong những năm tới, Đảng phải dành nhiều công sức nhằm tạo được chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng nước ta. Muốn vậy, phải thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật của Đảng.
Về quan hệ đối ngoại của Đảng . Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Người kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của các dân tộc trên thế giới vì mục tiêu giải phóng. Ngày nay, chúng ta phải góp phần vào cuộc đấu tranh chung của loài người vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tạo dựng một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Ngày nay, vấn đề quan trọng là Đảng và Nhà nước ta phải xây dựng và thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, vì hoà bình, hợp tác và phát triển phù hợp với xu thế của thời đại, tranh thủ đến mức cao nhất sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới cho sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Trong quan hệ quốc tế hiện nay cần giữ vững môi trường hoà bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì những mục tiêu cao cả của thời đại. Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền. Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong giai đoạn hiện nay với những nội dung trên, chúng ta sẽ làm được, vì Đảng Cộng sản Việt Nam có tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, có tinh thần đoàn kết quốc tế thuỷ chung, trong sáng, vì Đảng ta là đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ, GẮN LIỀN VỚI ĐOÀN KẾT, HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
PGS.TS. ĐINH XUÂN LÝ
Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế
Tư tưởng về độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế là một bộ phận cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại 28 , đó là hệ thống quan điểm thể hiện các nội dung như sau:
Về độc lập tự chủ
Tháng 5 năm 1947, khi trả lời ông Vaxidép Rao, thông tín viên của hãng Roitơ, về quan niệm độc lập của nước Việt Nam, Hồ Chí Minh giải thích: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào” 29 . Độc lập tự chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở tính chủ động, sáng tạo trong tư duy và hành động - không rập khuôn, máy móc, không thụ động hoặc ỷ lại. Cũng có nghĩa là dân tộc Việt Nam phải tự mình hoạch định đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, “phải vạch rõ những phương pháp và những biện pháp của riêng mình”. Đường lối đó phải phục vụ lợi ích quốc gia như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Tuy nhiên, xuất phát từ quan điểm: “Nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”, 30 Hồ Chí Minh đồng thời chỉ ra rằng không thể hạn chế những hoạt động đó trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý, bởi những hoạt động đó “có muôn ngàn sợi dây liên hệ” với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ.
Và, điều đặc biệt quan trọng là, trong khi nhấn mạnh độc lập tự chủ về hoạch định đường lối phát triển của dân tộc, Hồ Chí Minh cũng cảnh báo hai khuynh hướng cần phải tránh: một là , nếu không “chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều”; hai là , “nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại” 31 .
Quan điểm độc lập tự chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện ở phương diện “sức mạnh nội lực” mà Người thường gọi là “thực lực”. Đó chính là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh kinh tế, chính trị, văn hoá... của đất nước.
Về đoàn kết quốc tế
Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đưa ra quan điểm gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. 32 Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, đặc biệt là thời gian ở Pháp đã đóng góp to lớn trên phương diện nhận thức và thực tiễn về ý nghĩa của đoàn kết quốc tế trong phong trào cách mạng thế giới, đồng thời góp phần liên hiệp các dân tộc bị áp bức nói chung, đặc biệt ở phương Đông nói riêng trong cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc.
Trong bản báo cáo trình bày tại Hội nghị các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, họp năm 1944 tại Liễu Châu (Quảng Châu, Trung Quốc), Hồ Chí Minh đã khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc kết hợp yếu tố sức mạnh dân tộc với sự giúp đỡ, ủng hộ từ bên ngoài, Người nói: “Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được” 33 .
Trên cơ sở phương châm “thêm bạn, bớt thù”, tránh đối đầu, “không gây thù oán với một ai”, tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể, nhằm tập hợp lực lượng, hình thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc, Hồ Chí Minh đã mở rộng biên độ đoàn kết quốc tế theo quan điểm “Mọi người yêu nước và tiến bộ là bạn của ta”; 34 “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” 35 Đây chính là phương châm quan hệ quốc tế, là cơ sở để xác lập tình hữu nghị, đoàn kết, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Trong đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh xác định rõ quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với các đối tác cụ thể: với phong trào cách mạng vô sản; với phong trào giải phóng dân tộc; với phong trào hoà bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới... Trong đó, Người đặc biệt quan tâm đến việc góp phần xây dựng khối đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế “trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.
Độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, vấn đề quan trọng hàng đầu tạo cơ sở cho đoàn kết quốc tế là phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về đất nước và con người Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta “Để tỏ cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh”; “dân Việt Nam ta đủ tư cách độc lập, tự do”. Và, phải khôn khéo, phải chủ động, tích cực; phải tự lực cánh sinh, phải lấy sức ta mà giải phóng cho ta, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” 36 . Người nói: “sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. 37 Trong mối quan hệ dân tộc và quốc tế, Hồ Chí Minh không tuyệt đối hoá yếu tố khách quan - yếu tố quốc tế (tránh được sự rập khuôn, máy móc, sự ỷ lại bên ngoài); đồng thời Người cũng không tuyệt đối hoá yếu tố chủ quan - yếu tố dân tộc (tránh được sự biệt lập, cô lập). Người coi yếu tố quốc tế có ý nghĩa quan trọng cho thắng lợi của cách mạng; nhưng yếu tố độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường luôn giữ vai trò quyết định mọi thắng lợi. Sự giúp đỡ từ bên ngoài sẽ làm cho cách mạng nước ta bớt khó khăn hơn, tạo điều kiện để ta thực hiện tự lực cánh sinh được tốt hơn. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự chủ luôn luôn là nền tảng vững chắc để đoàn kết, tập hợp các lực lượng cách mạng thế giới ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam một cách hiệu quả nhất.
Thực tế cho thấy, quan điểm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh dựa trên nguyên tắc: sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước là nhiệm vụ của bản thân các quốc gia dân tộc, nhưng để tăng cường sức mạnh nội lực bảo đảm cho thắng lợi thì phải gắn cách mạng của mỗi nước vào trào lưu cách mạng thế giới, kết hợp chặt chẽ dân tộc với quốc tế, để tranh thủ cao nhất sự đồng tình ủng hộ của bên ngoài, tạo sức mạnh tổng hợp cho đất nước. Muốn đoàn kết, hợp tác quốc tế hiệu quả, bền vững phải có thực lực làm cơ sở, do đó việc xây dựng thực lực về chính trị, kinh tế, quân sự của đất nước - sức mạnh nội lực là nhân tố quyết định sự thành công của đoàn kết, hợp tác quốc tế. Hồ Chí Minh từng nói: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” 38 .
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, trong đoàn kết quốc tế cần nắm vững phương châm kiên trì về nguyên tắc, giữ vững chiến lược, nhưng mềm dẻo, linh hoạt về sách lược theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Người nói: “ Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”. 39
Để tăng cường đoàn kết phải thông qua đấu tranh. Người nói: “Mục đích của ta là vì đoàn kết, vì đoàn kết mà phải tranh đấu. Tranh đấu để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai”; phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ để biết người, biết mình, luôn làm chủ tình thế. Phải “thấy trước, chuẩn bị trước". Người nói “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc”; phải dự báo đúng tình hình, thời cuộc; phải tích cực chuẩn bị các điều kiện và nắm chắc thời cơ, nhưng phải biết chọn thời cơ để giành thắng lợi từng bước, giành thắng lợi từng bộ phận.
Tóm lại , tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế là hệ thống quan điểm thể hiện các nội dung về kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; về mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực và các phương châm, phương pháp nhằm phát huy hiệu quả của kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta.
2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ và đoàn kết, hợp tác quốc tế trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế, thể hiện trên các vấn đề như:
Một là , quán triệt quan điểm mục đích của ta là bất di bất dịch, nguyên tắc của ta phải vững chắc, sách lược phải linh hoạt theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Trên cơ sở mục tiêu nhất quán là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã linh hoạt điều chỉnh mục tiêu đối ngoại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam và thích ứng với xu thế quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong cộng đồng quốc tế.
Đảng ta khởi xướng sự nghiệp đổi mới vào lúc đất nước đang phải đối mặt với những thách thức to lớn. Cách mạng Việt Nam lúc này đặt ra hai yêu cầu quan trọng và cấp bách:
- Phải giải toả tình trạng căng thẳng, đối đầu; phá thế bị bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hoá quan hệ và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tạo môi trường thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước.
- Phải thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia khu vực, trong bối cảnh các nguồn viện trợ, đầu tư từ các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu không còn.
Xuất phát từ những yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn, Đảng ta trong khi kiên trì và nhất quán với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã thực hiện điều chỉnh chiến lược đối ngoại “lấy mục tiêu hoà bình và phát triển làm chuẩn mực trong mọi hoạt động quốc tế của mình”; chủ động chuyển sang giai đoạn đấu tranh mới dưới hình thức cùng tồn tại hoà bình với các nước láng giềng, khu vực và quán triệt ý nghĩa chính trị quan trọng của “con đường thi đua về kinh tế” giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau; tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế “Chuyển mạnh hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chủ yếu sang quan hệ chính trị - kinh tế, mở rộng quan hệ kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” 40 , kiên quyết mở rộng quan hệ quốc tế; quyết tâm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ với các nước lớn; thực hiện mở rộng liên kết, hợp tác và thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước.
Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (tháng 5 năm 1988) “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”, khẳng định “lợi ích cao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế. Đó là nhân tố quyết định củng cố, giữ vững an ninh và độc lập”; Bộ Chính trị chỉ ra rằng: “với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hơn” 41 . Kết luận trên của Bộ Chính trị đã thể hiện tư duy mới về quan hệ quốc tế coi “sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế” là một nhân tố góp phần “giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.
Vào đầu thập niên 1990, trước những thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu của công tác đối ngoại là cần nhạy bén, nhận thức kịp thời và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế để có những chủ trương đối ngoại phù hợp. Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) yêu cầu quán triệt việc đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền hạn thành viên của nước ta, gia nhập các tổ chức quốc tế và các hiệp hội kinh tế khác khi cần thiết và có điều kiện.
Cùng với việc điều chỉnh về chủ trương lớn, Đảng đã đổi mới chính sách đối ngoại với các đối tác cụ thể: đối với Lào và Campuchia, thực hiện “Đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Phấn đấu góp phần sớm đạt được một giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Campuchia” 42 . Với Trung Quốc, Đảng chủ trương giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng, thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ và từng bước mở rộng sự hợp tác Việt - Trung. Trong quan hệ với khu vực, chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, phấn đấu cho một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác 43 ...
Xuất phát từ tình hình thế giới và các xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế, Đảng ta trong khi chủ trương triển khai mạnh mẽ và đồng bộ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt với tất cả các nước, đã nhấn mạnh tư tưởng chỉ đạo là: Giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ.
Tại Đại hội lần thứ VIII (tháng 6 năm 1996), trong khi tiếp tục quan điểm phát triển quan hệ với các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ, Đảng ta chủ trương: “mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác” 44 ; đồng thời quán triệt yêu cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển
Đại hội lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) và Đại hội lần thứ X (tháng 4 năm 2006) đề ra yêu cầu: chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Sự điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại của Đảng qua các kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương từ khoá VI đến khoá X là phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh: “ Tình hình mới đã đặt ra những nhiệm vụ mới , phương châm mới, sách lược mới..., chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi, cho hợp với tình hình mới” 45 . Mặt khác, những điều chỉnh này cũng thể hiện rõ nét sự kế thừa sáng tạo phương châm tư tưởng Hồ Chí Minh: mục đích của ta là bất di bất dịch, nhưng phải “dĩ bất biến, ứng vạn biến” nhằm thực hiện cho được mục tiêu cơ bản là: Xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục vận dụng quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu phải quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính là xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, coi đó là lợi ích cao nhất. Trong quan hệ đối ngoại phải quán triệt: Lấy việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là mục tiêu cao nhất, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng thực tế của Việt Nam. Cụ thể là, giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường đi đôi với mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế, tạo thêm nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; thông qua đó phát huy vai trò và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ khu vực và quốc tế.
Hai là , quán triệt phương châm tư tưởng Hồ Chí Minh: “thêm bạn, bớt thù”; “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” thích ứng với đặc điểm và xu thế quốc tế; chủ động, tích cực mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác phát triển với tất cả các nước vì hoà bình, độc lập và phát triển; nhận thức đúng vai trò, vị trí của từng đối tác, để lựa chọn phương cách và thế ứng xử phù hợp, hiệu quả trong hoạt động đối ngoại.
Vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở nhận thức sâu sắc tình hình trong nước và bối cảnh quốc tế, Đại hội lần thứ VI của Đảng chủ trương phải đổi mới phương cách tập hợp lực lượng, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
Để giữ vững hoà bình, phát triển kinh tế, Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (tháng 5 năm 1988) xác định quan điểm: trong quan hệ quốc tế, chúng ta phải "thêm bạn, bớt thù", ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới; làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập nước ta về kinh tế, chính trị; kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiên quyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hoá quan hệ.
Về làm nghĩa vụ quốc tế, Nghị quyết Bộ Chính trị chủ trương phải căn cứ vào điều kiện và khả năng của Việt Nam, phù hợp với mục tiêu chiến lược của ta nhằm giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế. Như vậy so với quan điểm của Đảng ở Đại hội lần thứ VI: “Là một đội ngũ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Đảng ta tích cực góp phần vào việc tăng cường đoàn kết của phong trào trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, tăng cường sự hợp tác giữa các đảng anh em trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội” 46 thì Nghị quyết 13 Bộ Chính trị đã có sự đổi mới rõ rệt về quan điểm làm nghĩa vụ quốc tế.
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (tháng 3 năm 1990), coi việc mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm “thêm bạn, bớt thù” là một trong những nhiệm vụ cấp bách và quán triệt không để các vấn đề cục bộ, tạm thời, thứ yếu cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược của ta; nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đoàn kết quốc tế phù hợp với tình hình mới.
Đến Đại hội lần thứ VII (tháng 6 năm 1991), tư duy của Đảng ta về quan hệ quốc tế tiếp tục được đổi mới. Đó là việc nhận thức trong đời sống chính trị - kinh tế quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, bên cạnh lợi ích mang tính giai cấp, mang tính ý thức hệ còn có những lợi ích mang tính phổ biến, tính toàn cầu và, trong một thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ thì việc phối hợp, hợp tác giữa các nước là một nhu cầu khách quan. Trong điều kiện như vậy, tư duy xác định “bạn, thù” trên cơ sở tiêu chí ý thức hệ đơn thuần không còn phù hợp nữa, mà đòi hỏi phải mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn. Đại hội lần thứ VII đề ra chủ trương: “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình” 47 , với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. 48
Trên cơ sở nhận thức sâu sắc bối cảnh thế giới và quan hệ chính trị quốc tế, đồng thời cảm nhận đầy đủ “thế” và “lực” của đất nước sau 15 năm đổi mới, Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4 năm 2001) nêu phương châm đối ngoại mới: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. 49 Đại hội xác định thứ tự các mối quan hệ ưu tiên trong chiến lược đối ngoại của mình: coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN; tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển, các nước trong Phong trào Không liên kết; các nước phát triển và các tổ chức quốc tế; tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu; ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới bảo vệ hoà bình, chống nguy cơ chiến tranh và chạy đua vũ trang; góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng.
Những quan điểm của Đảng ở Đại hội lần thứ IX tiếp tục được Đại hội lần thứ X (tháng 4 năm 2006) phát triển, thể hiện qua việc khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững. Hội nhập kinh tế quốc tế với tinh thần chủ động và tích cực; phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.
Việc các Đại hội và Hội nghị Trung ương, Nghị quyết Bộ Chính trị từ khoá VI đến khoá X đều nhất quán khẳng định chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác song phương, đa phương với cộng đồng quốc tế chính là sự vận dụng và phát triển trong điều kiện mới chính sách đối ngoại rộng mở của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” (năm 1946) với quan điểm cốt lõi: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. 50
Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, hợp tác quốc tế, phải quán triệt sâu sắc hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; cố gắng thúc đẩy mặt hợp tác, nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức và mức độ thích hợp với từng đối tác; đấu tranh để hợp tác; tránh trực diện đối đầu, tránh để bị đẩy vào thế cô lập.
Mở rộng quan hệ với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Coi trọng quan hệ hoà bình, hợp tác với khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ ngày càng sâu rộng, bền vững với các nước lớn; chủ động tham gia các tổ chức đa phương, khu vực và toàn cầu.
Ba là, quán triệt quan điểm độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính theo tinh thần “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”, 51 để quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại, đa dạng hoá, đa phương hoá mang lại hiệu quả cao, bền vững và không làm phương hại đến chủ quyền quốc gia, bản sắc văn hoá dân tộc “hội nhập mà không hoà tan”, mở cửa nhưng không đánh mất mình, độc lập nhưng không đóng cửa biệt lập với tiến trình phát triển của nhân loại.
Thấm nhuần và quán triệt quan điểm Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng kể từ Đại hội lần thứ VI, đều khẳng định sức mạnh quyết định để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới là ở dân tộc ta, nhân dân ta, sức mạnh ấy do trí tuệ, ý chí của con người Việt Nam và tiềm năng của đất nước mà có. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào tự khép kín, tự cô lập mình với thế giới mà phát triển được. Đặc biệt là với Việt Nam, một nước đang phát triển, nền kinh tế còn lạc hậu thì càng cần phải tranh thủ nguồn lực bên ngoài, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của công cuộc đổi mới. Xuất phát từ nhận thức trên, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII (tháng 12 năm 1997), đề ra chủ trương trên cơ sở phát huy tốt nội lực kết hợp với mở rộng hợp tác quốc tế là vấn đề cơ bản quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và duy trì sự phát triển bền vững cho đất nước. Trong mối quan hệ giữa nội lực và nguồn lực bên ngoài, Đảng ta nhấn mạnh: Nếu không độc lập, tự chủ, không phát huy đầy đủ nội
lực thì không thể đứng vững và đi lên một cách vững chắc và cũng không thể khai thác hiệu quả nguồn lực bên ngoài được. Mặt khác, trong thời đại ngày nay, nếu chúng ta không mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm và thị trường bên ngoài, thì Việt Nam khó thoát khỏi tụt hậu. Vì vậy, Đảng yêu cầu phải nắm vững và quán triệt sâu sắc phương châm “giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế; động viên cao độ nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài; xây dựng một nền kinh tế mở hội nhập khu vực và thế giới”. Một trong những chính sách lớn mà Nghị quyết nhấn mạnh là “Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu hút các nguồn lực bên ngoài”. 52
Trong Văn kiện Đại hội lần thứ IX (tháng 4 năm 2001), lần đầu tiên Đảng ta đã làm rõ thuật ngữ về nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá: “xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”,1 mở rộng quan hệ với các nước nhưng không để nền kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc và bị sự chi phối của bên ngoài.
Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ sở vững chắc cho hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả và bền vững; mặt khác, hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả sẽ là một nhân tố bảo đảm cho độc lập tự chủ. Vì vậy, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế trong bối cảnh hiện nay cần phải quán triệt quan điểm: xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải gắn liền với chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm kết hợp sức mạnh trong nước (nội lực) với các nguồn lực từ bên ngoài (vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý) tạo thành nguồn lực tổng hợp để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực tế cho thấy, trong thời kỳ đổi mới, quan điểm Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ, gắn liền với đoàn kết, hợp tác quốc tế được quán triệt và thấm sâu vào mọi chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Sự vận dụng quan điểm của Người thể hiện trong việc hoạch định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, phù hợp với bối cảnh và xu thế quốc tế; thể hiện trong việc tập trung xây dựng thực lực mọi mặt (“lực” và “thế”) của đất nước, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế một cách hiệu quả. Chính vì vậy, hoạt động đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưa nước ta ra khỏi sự đối đầu thù địch; phá được thế bị bao vây cấm vận; giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia; mở rộng, phát triển quan hệ song phương và đa phương với khu vực và thế giới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thu hút được một khối lượng khá lớn vốn đầu tư từ bên ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến; góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nền kinh tế Việt Nam có bước phát triển mới; thế và lực của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế.
1. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.25, tr.352-353.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.161.
3. Vũ Kỳ: “Từ Hà Nội đến Quảng Châu, Dương Châu”, trong sách Bác Hồ và hoạt động ngoại giao, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.140.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.1.
5, 6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.1, 480; t.12, tr.108.
8. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.3, tr.279.
9. Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng: Lịch sử thế giới cận đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr.316.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.113.
1 . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.298.
12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.108.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.7, tr.244.
14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.647.
15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.441.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.7, tr.427.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.8, tr.437.
18. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.126.
19, 20. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.557; t.4, tr.480.
21. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.108.
22. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.457.
23. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam: Hội thảo quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.5-6.
24. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.500.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.38-39.
26. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.220.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.113-114.
28 Theo tôi: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại là hệ thống quan điểm về các vấn đề quốc tế; về chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới. Hệ thống quan điểm đó được thể hiện ở các nội dung: quan niệm của Hồ Chí Minh về các vấn đề quốc tế; về mục tiêu đối ngoại; về tập hợp và mở rộng lực lượng hoạt động đối ngoại; về phương châm đối ngoại, phương pháp và nghệ thuật đấu tranh ngoại giao nhằm giành thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.
Trong phạm vi bài viết này, hoạt động ngoại giao được coi là hoạt động tác nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu đối ngoại. Và, khái niệm ngoại giao Hồ Chí Minh không dùng với hàm nghĩa tư tưởng, mà được dùng với hàm nghĩa: nghệ thuật giao tiếp, nghệ thuật ứng xử, hay nói cụ thể hơn là phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong quan hệ đối ngoại.
29, 30. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.136; t.7, tr.173.
31, 32. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.8, tr.499; t.2, tr.301.
33, 34, 35. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.452; t.10, tr.605; t.5, tr.220.
36. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.293; t.6, tr.522.
37, 38. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.126; t.7, tr.319.
39. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.49. tr.623.
40. Nguyễn Cơ Thạch: “Những chuyển biến trên thế giới và tư duy mới của chúng ta”, Tạp chí Quan hệ quốc tế, số 1, 1990, tr.7.
41, 42. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.89, 90.
43. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.121.
43. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.315.
44. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.102.
45. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr.146.
46. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Sđd, tr.147.
47. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Sđd, tr.119.
48. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.470.
49. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.293.
50, 51. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.9, 59.
52. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Sđd, tr.25-26.
Nxb Chính trị quốc gia